HTNT - Theo “Trương Thị quý thích Như Quỳnh – Kinh Bắc thế phả” lưu trữ tại Viện Hán Nôm Hà Nội) thì hai vị Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Lôi (Lê Lôi), Trương Chiến (Lê Chiến) có mối quan hệ cha – con (Trương Chiến là con của Trương Lôi).
Hai ông quê ở ấp Hậu Ba Thục, phía nam Ái Châu (theo phả dòng họ Trương Nhân Mục cựu, lưu trữ tại viện Hán nôm Hà Nội, đến thời nhà Lê đổi thành thôn Quan Nội, xã Hào Lương, huyện Ngọc Sơn và ngày nay là thôn Tiền Phong, xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Hiện tại Đền thờ Tổ của dòng họ Lê Trương – Hải Hòa vẫn còn lưu giữ được 2 bản sắc phong Bình Ngô Khai Quốc Công Thần của hai ông, thời Vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 14.
Theo “Lam Sơn thực lục”, Trương Lôi là một trong những võ tướng đầu tiên của Lê Lợi, hai cha con ông đến với Lê Lợi từ trước năm 1416 (trước khi diễn ra hội thề Lũng Nhai). Đối chiếu với thông tin về năm sinh của Trương Lôi trong cuốn “Trương Thị quý thích Như Quỳnh – Kinh Bắc thế phả” thì khi đó Trương Lôi khoảng 30 tuổi và Trương Chiến khoảng 15 tuổi (do đó trong “Lam Sơn thực lục” giai đoạn trước khi diễn ra Hội thề Lũng Nhai không thấy nhắc đến Trương Chiến vì tuổi còn nhỏ).
Trương Lôi là gia thần của Lê Lợi, là người thân tín vào hàng bậc nhất của Chủ tướng Lê Lợi, luôn bên cạnh Lê Lợi trong mọi hoàn cảnh khó khăn, gian khổ và được Lê Lợi hoàn toàn tin tưởng. Sách “Lam Sơn thực lục” ghi: “Chỉ có Vua là người đứng đầu một ấp, làm nghề cày ruộng, thường sai bọn người nhà Trương Lôi, Võ Uy và Trịnh Võ cày cấy ở Động Chiêu Nghi …”.
Trương Lôi là người có công phát hiện và mời được vị sư già gặp Lê Lợi, giúp tìm được mảnh đất có long huyệt để an táng tổ tiên, phát nghiệp đế vương. Khi tên quan huyện Đỗ Phú dẫn giặc Minh đào mả Phật Hoàng (mộ tổ tiên Lê Lợi) thì Trương Lôi đã cùng các tướng khác đội cỏ gai, bơi thuyền theo giặc, đợi đến đêm cướp được hài cốt, linh xa đem về bí mật an táng lại tại động Chiêu Nghi.
Những ngày chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa, Trương Lôi cùng các bận thân tín như Lê Liễu, Lê Lô, Lê Thận, Võ Uy …vv dày công thực hiện ý đồ của lãnh tụ Lê Lợi trong việc tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ Lam Sơn và địa bàn hoạt động của cuộc khởi nghĩa. Được chọn làm căn cứ đầu tiên, cùng đất Khả Lam đã trở thành trung tâm hội tụ nhân tài, vật lực của Thanh Hóa và cả nước, chuẩn bị dấy nghĩa trừ giặc Minh tàn bạo.
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 01 tháng 02 năm Bính Thân (1416), Lê Lợi cùng 18 người đồng chí tâm huyết nhất bí mật tập hợp tại Lũng Nhai làm lế tế cáo trời đất, kết nghĩa huynh đệ cùng quyết tâm đánh giặc cứu nước. Trong danh sách hội thề Lũng Nhai do phụ đạo chính lộ Khả Lam Lê Lợi đọc hồn thiêng sông núi, Trương Lôi đứng hàng thứ 6, Trương Chiến đứng hàng thứ 18 và hai cha con đã trở thành những hạt nhân tiêu biểu đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Tại căn cứ Lam Sơn, dưới sự chỉ đạo của lãnh tụ Lê Lợi, Trương Lôi, Trương Chiến đã cùng các tướng sĩ tổ chức nhiều trạm đón tiếp nghĩa quân từ khắp các néo đường đất nước về tụ nghĩa. Đặc biệt với tài huấn luyện voi chiến (kinh nghiệm trong thời gian chăn voi ở đèo thành Trịnh Cao –LSTL) nên Trương Lôi được Lê Lợi tin tưởng giao cho trọng trách đi tiếp nhận và huấn luyện voi chiến cho nghĩa quân. Từ việc này, mặc dù chưa lên ngôi Hoàng Đế nhưng Lê Lợi đã cảm kích và hứa phong cho Trương Lôi chức Tham đốc tham triều hầu và ban cho quốc tính là Lê Lôi. Sách “Lam Sơn thực lục” ghi : “Vua sai người nhà là Trương Lôi đi đón voi, đón Trịnh Đồ, Trịnh Khả. Vua phong cho Trịnh Đồ làm Thái bảo quận công. Trịnh Khả làm Thái bảo liệt công, người nhà là Trương Lôi thề phong làm Tham đốc tham triều hầu, ban quốc tính Lê Lôi, nói trước để làm tin”. Như vậy mới thấy được sự tin tưởng, gần gũi, thân tình như ruột thịt giữa Lê Lợi và Trương Lôi; có thể nói Trương Lôi là người đầu tiên mà Lê Lợi ban cho quốc tính, được mang họ Vua.
Ngày 2 tháng giêng năm Mậu Tuất (tức ngày 7/2/1418), trong không khí ngày tết nguyên đán cổ truyền của dân tộc, Lê Lợi cùng toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Lê Lợi tự xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi các nơi kêu gọi nhân dân đứng lên cũng giết giặc cứu nước. Lúc này lực lượng nghĩa binh không nhiều lắm, theo sách “Lam Sơn thực lục” thì lực lượng ban đầu chỉ có 51 tướng võ, văn, 200 quân thiết đột, 200 nghĩa sĩ, 200 dũng sĩ, 14 thớt voi với tổng số người tham gia khoảng 2000. Trong lực lượng tướng ít ỏi đó dã có mặt hai cha con Trương Lôi – Trương Chiến.
Được tin chính thức Lê Lợi không chịu hàng phục đã dấy nghĩa tại ngay vùng quê Lam Sơn, quân Minh lập tức tập trung lực lượng do tên đô đốc Chu Quảng cầm đầu kéo đến Lam Sơn đàn áp. Do lực lượng quân quá chênh lệch, để bảo toàn lực lượng, Bình Định Vương Lê Lợi quyết rút quân lên miền tây Thanh Hóa, Quân Minh ráo riết đuổi theo nghĩa quân, chúng huy động toàn bộ lực lượng lục sục hòng bắt Lê Lợi và đè bẹp cuộc khởi nghĩa ngay từ trong trứng nước.
Vốn thông thạo địa hình miền Tây Thanh Hóa, Trương Lôi cùng một số tướng lĩnh dũng cảm bảo vệ Bình Định Vương Lê Lợi. Sách “Lam Sơn thực lục” ghi truyền thuyết về sự tích Hồ Tinh đã cho biết về sự ác liệt của cuộc chiến đấu, tinh thần quả cảm của các tướng lĩnh, trong đó có Trương Lôi luôn sẵn sàng hy sinh tính mạng nhằm bảo vệ an toàn cho vị lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa. Theo truyền thuyết, khi Lê Lợi bị giặc Minh truy sát, bên cạch chỉ có 2 người thân tín là Trương Lôi và Lê Liễu, nhờ việc nhân đức trong lúc chạy nạn, thấy xác người con gái mặc áo trắng nằm chết bên đường vẫn dừng lại chôn cất tử tế mà hồn ma biến thành con Hồ Tinh đánh lạc hướng giặc Minh, thoát nạn trong gang tấc, Sau khi thoát nạn, Trương Lôi đã đưa Bình Định Vương Lê Lợi về thành Trịnh Cao (nới Trương Lôi đã có thời gian huấn luyện voi chiến tại đây) đồn trú.
Cũng trong giai đoạn này, khi Lê Lợi rút quân lên núi Chí Linh ẩn náu mới thấy được sự trung thành tuyệt đối, đồng cam cộng khổ đến cùng của Trương Lôi với Bình Định Vương Lê Lợi. Sách “Lam Sơn thực lục” có ghi : “ … chỉ có bọn công thần Lê Lễ, Lê Vấn, Lê Xí, Lê Bí, Trương Lôi, Lê Đạp theo trẫm ẩn náu ở Chí Linh, hết lương ba tháng liền … ”. Sau đó Trương Lôi, Trịnh Khả, Trịnh Đồ là người được Lê Lợi tin tưởng ủy thác, tiên phong sang Ai Lao lấy lương thực về nuôi quân.
Trương Lôi nổi tiếng với tài cầm quân lấy ít thắng nhiều, khiến giặc Minh nghe đến tên ông đã run sợ, Theo sách “Lam Sơn thực lục” thì khi tên phản nghịch Cầm Lạn dẫn đường cho bọn giặc Lý Bôn, Phương Chính đem hơn 10 vạn quân đánh thẳng vào Mường Thôi, nơi nghĩa quân và Bình Định Vương Lê Lợi đang đóng quân. Trương Lôi đã cùng các tướng Lê Lý, Lê Vấn, Lê Triệu dỉ đem chừng 1000 quân tinh nhuệ, đặt mai phục tại Bồ Mộng, khi giặc đến thừa thế từ trên cao đánh xuống chém hơn nghìn đầu, phá tan 10 vạn quân Minh.
Một trận chiến khác thể hiện vai trò quan trọng của Trương Lôi trong những thắng lợi của nghĩa quân, đó là trận chiến trên sông Bố Chính, khi Lê Lợi đánh vào các chân Tân Bình, Thuận Hóa. Trong trận chiến này Trương Lôi chỉ đem một thớt voi và một số quân khỏe mạnh đột kích vào, phá tan quân giặc, giúp Bình Định Vương Lê Lợi thu phục được cả hai châu Tân Bình và Thuận Hóa trong thời gian ngắn và hao tổn ít quân lương.
Ngoài việc là một dũng tướng tiên phong trong trận mạc, Trương Lôi còn có tài trong việc ngoại giao dân vận. Sách “Lam Sơn thực lục” ghi: “Bấy giờ các châu lộ Thanh Hóa cùng bà con thân thuộc cũ của Trẫm đều tranh nhau đến cửa quân, nguyện dấn thân ra sức mưu đồ báo đáp. Chưa đầy ba ngày, bộ ngũ sắp xếp xong xuôi bên này thành Tây Đô, Ngày ngày bọn Trương Lôi yên ủi vỗ về nhân dân, rèn luyện binh sĩ … ”. Trong một số lần phải tạm thời hòa hoãn với quân giặc, Trương Lôi luôn là một trong những người mà Lê Lợi tin tưởng, ủy thác việc đem thư đến trại giặc để ngoại giao, đàm phán.
Khi nghĩa quân đã hùng mạnh, năm Giáp Thìn (1424) Bình Định Vương Lê Lợi quyết định tấn công giặc Minh bằng việc đưa quân vào vùng đồng bằng Nghệ An, khi đó Trương Chiến đã khôn lớn và là một dũng tướng cận vệ của Lê Lợi. Trên đường đi đại quân của Lê Lợi trong đó có dũng tướng Trương Chiến đã đánh hạ Đa Căng, đánh lui quân cứu viện của tù trưởng Cầm Bành, đánh thành Trà Lân, đánh lui các đạo quân cứu viện của các tướng giặc Minh là Trần Trí, Lý An, Phương Chính, khiến tù trưởng Cầm Bành phải đầu hàng. Từ cuối năm 1425 nghĩa quân Lam Sơn đã làm chủ toàn bộ vùng đất từ Thanh Hóa trở vào, đẩy giặc Minh vào thế bị động, co cụm, phòng ngự, trong đó có phần đóng góp rất lớn về trí tuệ và công sức của hai cha con dũng tướng Trương Lôi – Trương Chiến.
Từ tháng 8 năm Bính Ngọ (1426) đại quân của Bình Định Vương Lê Lợi tiếp tục Bắc tiến, trong chiến thắng trận Tốt Động, Ninh Kiều tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), Trương Chiến được Lê Lợi giao cho trọng trách tiên phong, cùng với các cánh quân do Trương Lôi và các tướng khác chỉ huy đánh tan hơn 10 vạn quân cứu viện của nhà Minh, do Vương Thông, Mã Anh, Sơn Thọ, Mã Kỳ chỉ huy. Đây là một chiến thắng quân sự lớn của nghĩa quân Lam Sơn và được nhắc đến trong Bình Ngô Đại Cáo.
Ninh Kiều máu chảy thành sông tanh hôi vạn dặm;
Tụy Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm
Tháng 11 năm Bính Ngọ (1426), hai cha con Trương Lôi – Trương Chiến đều là tướng tiên phong chỉ huy các cánh quân trong đại quân do Lê Lợi chỉ huy vây đánh thành Đông Quan (Thăng Long), khiến tướng giặc là Vương Thông phải gửi thư xin hàng.
Đặc biệt trong một trận chiến quan trọng diễn ra vào tháng 6 năm Đinh Mùi (1427), quyết định cục diện của cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược, đó là trận chiến tại Ải Chi Lăng khi An Viễn hầu Liễu Thăng, Kiều quốc công Mộc Thạnh, Bảo định bá Lương Minh, Đô đốc Thôi Tụ, Thượng thư Lý Khánh, Hoàng phúc đem 20 vạn quân tiếp viện chia hai đường hùng hổ tiến vào nước ta. Trong trận chiến này, hai cha con Trương Lôi – Trương Chiến được cùng sánh vai xông pha trận mạc, phá tan quân giặc và Liễu Thăng bị chém đầu tại trận.
Sau trận chiến này, bọn giặc ở tất cả các thành trong cả nước đều sợ hãi xin hàng, Bình Định Vương Lê Lợi đã thể hiện sự nhân nghĩa và hòa hiếu của dân tộc ta bằng cách cấp đủ phương tiện và lương thực cho tàn quân bại trận của nhà Minh về nước.
Cuối năm 1427, cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược hoàn toàn thắng lợi, Bình Định Vương Lê Lợi ban Đại Cáo Bình Ngô trên toàn lãnh thổ Đại Việt. Mùa xuân năm Mậu Thân 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng Đế, lấy niên hiệu năm Thuận Thiên thứ nhất và xét công ban thưởng cho toàn bộ tướng lĩnh đã cùng ông nằm gai nếm mật trong hơn mười năm kháng chiến. Trương Lôi và Trương Chiến vinh dự được đứng trong số 35 vị được vua trực tiếp ban thưởng Ngự danh “Bình Ngô Khai Quốc Công Thần”, Trương Lôi (Lê Lôi) đứng thứ 13 và Trương Chiến (Lê Chiến) đứng thứ 31.
Trong bảng Thứ Nhất Công gồm 49 người, Trương Lôi (Lê Lôi) đứng thứ 11. Trong bảng Thứ Tam Công gồm 99 người, Trương Chiến (Lê Chiến) đứng thứ 75.
Trong Biểu ngạch công thần của Triều đình, Trương Chiến (Lê Chiến) thuộc Đình thượng hầu, đứng hàng thứ tư, Trương Lôi (Lê Lôi) thuộc Liệt hầu, đứng hàng thứ 5.
Trương Lôi được tấn phong: Tham triều hầu, lộ Khả lam vì đầu tiên đón tiếp voi nghĩa, hộ quốc sự (theo đúng như lời hứa của Lê Lợi trước khi khởi nghĩa).
Trương Chiến được tấn phong: Nghi dương hầu, tước Nghi quận công vì vệ quốc sự.
Sau khi được Vua tấn phong và ban thưởng, hai cha con Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Lôi – Trương Chiến đã về quê vinh quy bái tổ, cũng có thể quê của hai ông được đổi tên thành Thôn Quan nội.
Ngay sau khi đất nước thái bình, hai cha con Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Lôi – Trương Chiến lại lập tức nhận được sự ủy thác của Hoàng Đế Lê Lợi, đưa quân đi trấn thủ miền biên cương biên giới phía bắc của Tổ quốc. Trương Lôi được phong “Vi đồng tổng quản Hà Bắc, lộ vệ chư quân sự”, được tham dự triều chính. Trương Chiến được phong “Bảo chính công thần nhập nội thiếu úy”, được tham dự triều chính.
Với tên tuổi lừng lẫy trong mười mấy năm kháng chiến của hai cha con Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Lôi – Trương Chiến, với tài cầm binh và chính sách an dân rất tốt của hai vị tại miền biên cương Tổ quốc, triều đình nhà Minh mặc dù rất hậm hực, muốn tiếp tục thôn tính Đại Việt, nhưng không giám xuất quân.
Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Chiến mất năm Thiệu Bình thứ 3 (1426) khi vừa tròn 36 tuổi, khi mà tài năng và trì tuệ đang thời kỳ sung mãn nhất (đến nay vẫn chưa tìm hiểu được nguyên nhân vì sao ông mất sớm như vậy, phải chăng ông bị nhà Minh đầu độc khi đi sứ ?). Đến năm Hồng Đức thứ 15 (1484), thời vua Lê Thánh Tông, ông lại được truy tặng tước hiệu “Thái bảo Lý quận công” và cho con là Lê Bá Trù ấm Quang lộc đại phu.
Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Lôi tiếp tục nhiệm vụ thiêng liêng của mình là bảo vệ bình yên vùng biên cương biên giới phía bắc, trải qua 3 đời Vua. Đời vua Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, ông được phong đến chức quan Thái phó. Ông mất năm Quang Thuận thứ 3 (1462) đời vua Lê Nhân Tông, hưởng thọ 77 tuổi. Đến năm Hồng Đức thứ 15 (1484) được vua Lê Thánh Tông truy tặng tước hiệu “Thái Phó mục quận công”.
Sau khi hai cha con Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Lôi – Trương Chiến mất, tất cả các nhánh họ hậu duệ và nhân dân địa phương cảm nhận ân đức của 2 ông đều lập đền thờ.
Tại cố hương Thôn Quan Nội, đền thờ được xây dựng đồng thời tại hai khu vực: Khu vực đền lớn của làng, xã gồm nhiều ngôi (đến nay không còn), hiện còn lưu giữ một bản khắc gỗ sơn son thiếp vàng, nội dung ca ngợi công đức của hai ông với nhân dân với nước. Khi Thôn Quan Nội xây dựng Đình cũng tôn hai ông làm thần của làng và tôn thờ ở Đình. Con cháu của dòng họ Lê Trương cũng lập đền thờ ngay sau khi hai ông mất, đến năm 1759 thì dịch chuyển vị trí sửa chữa ngôi tiền đường (nay không còn). Năm 1957 sửa lại ngôi hậu cung còn tồn tại cho đến ngày nay.
Cảm nhận ân đức của hai ông với triều đình Nhà Lê, thời vua Lê Thánh Tông đã cho phép các dòng họ của các công thần đã được ban quốc tính được đổi về họ gốc của mình làm tên lót, từ đó đến nay được gọi là Dòng họ Lê Trương. Chỉ việc đó thôi cũng đã để con cháu muôn đời cảm nhận được sự trung thành với Tổ quốc nói chung và với Triều đình nhà Lê nói riêng.
Mặc dù chưa xác định được hai ông mất vào ngày tháng nào nhưng hàng trăm năm, con cháu dòng họ Lê Trương tại thôn Quan Nội đều làm lễ giỗ Tổ vào ngày rằm tháng tám âm lịch, việc này gắn liền với lễ hội Lam Kinh và ngày giỗ của Cao Hoàng đế Lê Thái Tổ.
Tại Như Quỳnh - Hưng Yên, một điều rất đáng khâm phục là gần 600 năm (kể từ khi cha con Đức Liệt Tổ Trương Lôi – Trương Chiến tham gia hội thề Lũng Nhai và khởi nghĩa Lam Sơn, đặc biệt là trận quyết chiến tại ải Chi Lăng đến nay, nhánh Trương –Như Quỳnh vẫn ghi chép được liên tục thế thứ chi tộc 27 đời với 6 mốc son chỉnh lý, biên soạn công phu phả hệ gồm 2350 trang gồm 5 tập).
Ngày 2/3/2012 , sau 23 năm công phu “vấn tổ tìm tông” Nhánh Trương – Như Quỳnh đã tìm được “dấu xưa hương hỏa” là đền thờ cha con Đức Liệt Tổ Trương Lôi – Trương Chiến và dòng họ Lê Trương ở cố hương Hải Hòa – Tĩnh Gia – Thanh Hóa.
Ngày 12/4/2012 hậu duệ nhánh Trương – Như Quỳnh đã tìm được hai ngôi mộ hợp nhất của hai cha con Đức Liệt Tổ - Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trương Lôi – Trương Chiến tại Yên Thế - Hữu Lũng – Lạng Sơn.
Kể từ đây, sau gần 600 năm lịch sử, con cháu hậu duệ của hai ông trên khắp mọi miền Tổ quốc đã được đoàn tụ. Hàng năm vào ngày Rằm tháng tám, con cháu hai ông lại về tề tựu trước mộ và bàn thờ tổ, thắp nén tâm hương, kính cẩn hướng về cuội nguồn.
LÊ TRƯƠNG THẾ
BẢN DỊCH HAI
SẮC PHONG:
“ Sắc phong bậc công thần vì vận mệnh quốc gia mà dẹp giặc xây dựng đất nước hưng thịnh sáng nghĩa cao cả. Bậc đại phu ta xa kỵ vệ Đại tướng quân, Thái bảo Triều quận công bậc trụ cột cao cả Trương Lôi được ban họ vua Lê Lôi. Có tài năng hết lòng hết sức ở trận Mường Cốc Linh Sơn … lên tham gia khởi nghĩa, phò quốc gia, quét sạch giặc phương bắc, giữ vững biên cương. Khi tại chức đã vì lập quy ước sáng suốt, chỉnh đốn chính thể. Trước sau có nhiều công huân to lớn toàn vẹn, xứng đang phong tặng thêm là bậc tiên phong mở phủ phò giúp nước Thượng tướng quân Thái phó Triều Quận công Lê Lôi, Ban tứ tướng công, tên thụy khi mất là Trực Nghị (cương trực thẳng thắn) nên có sắc phong này.
Ngày 2 tháng 7 năm Cảnh Hưng 44 (1783).
“Sắc phong công thần dẹp giặc xây dựng đất nước hưng thịnh sáng nghĩa cao cả. Đại phu thiết đột kỵ vệ Nội hầu, trụ cột quốc gia, thiếu úy Trương Chiến vâng ban họ vua Lê Chiến. Đứng đầu thiết kỵ hết lòng hết sức trận Mường Cốc, phò vua dẹp giặc phương bắc, khôi phục nước nhà, vì nước quên mình, trước sau có nhiều công huân to lớn. Toàn vẹn vì vận mệnh đất nước. Do đó vâng theo chiếu chỉ phục hồi đất nước phồn vinh. Có triệu mưu lược trừ bọn cuồng tặc phản loạn ở nơi xa. Công đức muôn đời ơn soi sáng mãi, được phong thêm “Trí tự Thái bảo Lý Quận Công, bậc trụ cột quốc gia Lê Chiến, ban thượng tướng công, thụy viết trực chính nên có sắc phong này.
Ngày 2 tháng 7 năm Cảnh Hưng 44 (1783)
“ Sắc phong bậc công thần vì vận mệnh quốc gia mà dẹp giặc xây dựng đất nước hưng thịnh sáng nghĩa cao cả. Bậc đại phu ta xa kỵ vệ Đại tướng quân, Thái bảo Triều quận công bậc trụ cột cao cả Trương Lôi được ban họ vua Lê Lôi. Có tài năng hết lòng hết sức ở trận Mường Cốc Linh Sơn … lên tham gia khởi nghĩa, phò quốc gia, quét sạch giặc phương bắc, giữ vững biên cương. Khi tại chức đã vì lập quy ước sáng suốt, chỉnh đốn chính thể. Trước sau có nhiều công huân to lớn toàn vẹn, xứng đang phong tặng thêm là bậc tiên phong mở phủ phò giúp nước Thượng tướng quân Thái phó Triều Quận công Lê Lôi, Ban tứ tướng công, tên thụy khi mất là Trực Nghị (cương trực thẳng thắn) nên có sắc phong này.
Ngày 2 tháng 7 năm Cảnh Hưng 44 (1783).
“Sắc phong công thần dẹp giặc xây dựng đất nước hưng thịnh sáng nghĩa cao cả. Đại phu thiết đột kỵ vệ Nội hầu, trụ cột quốc gia, thiếu úy Trương Chiến vâng ban họ vua Lê Chiến. Đứng đầu thiết kỵ hết lòng hết sức trận Mường Cốc, phò vua dẹp giặc phương bắc, khôi phục nước nhà, vì nước quên mình, trước sau có nhiều công huân to lớn. Toàn vẹn vì vận mệnh đất nước. Do đó vâng theo chiếu chỉ phục hồi đất nước phồn vinh. Có triệu mưu lược trừ bọn cuồng tặc phản loạn ở nơi xa. Công đức muôn đời ơn soi sáng mãi, được phong thêm “Trí tự Thái bảo Lý Quận Công, bậc trụ cột quốc gia Lê Chiến, ban thượng tướng công, thụy viết trực chính nên có sắc phong này.
Ngày 2 tháng 7 năm Cảnh Hưng 44 (1783)





Tôi đã đọc được các bài do "Thông tin mạng hotruongnghetinh" đăng, tôi càng thấm thía lời dặn của Bác Hồ: "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta. Dân tộc ta là con Rồng cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc dẹp Nam, yên dân trị nước tiếng để muôn đời. Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn".
ReplyDelete(Báo Việt Nam độc lập số 117, ngày 1-2-1942
Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia 2002).
Trân trọng chia sẻ.
Cảm phục và tự hào lắm thay
ReplyDelete