Đi
trên đường Trần Hưng Đạo, đoạn gần Trung tâm chấn thương chỉnh hình
(Q.5, TP.HCM), ít ai biết ở số 520, có nhà mồ cổ - nơi an nghỉ của một
người nổi tiếng.
Bên trong nhà mồ Trương Vĩnh Ký - ẢNH: H.Đ.N
Trong
nhà mồ, ngoài tấm đá trên mộ Trương Vĩnh Ký còn rõ nét thì mặt nền của 2
ngôi mộ bên cạnh (vợ và con ông) đã bị bong tróc, khó đọc được mặt chữ.
Những hậu duệ của cụ Trương hiện đang cư ngụ và buôn bán trong khuôn
viên nhà mồ gồm Trương Vĩnh Tấn, Trương Minh Đạt (cháu 4 đời) đều cho
biết: “Trước năm 1975, khu vực này là nghĩa trang dòng họ Trương Vĩnh.
Những năm sau 1975, cũng có an táng thêm một vài người (do bối cảnh khó
khăn lúc đó) nhưng sau này thực hiện đúng chủ trương, vệ sinh môi trường
nên từ năm 1980 trở đi đã không còn ai trong dòng họ được chôn cất ở
đây!”.
|
|---|
Nhà mồ này nằm ở góc ngã tư Trần Hưng
Đạo - Trần Bình Trọng, cổng chính nhìn ra đường Trần Hưng Đạo còn cổng
phụ trổ ra đường Trần Bình Trọng. Đứng ngoài đường Trần Hưng Đạo nhìn
vào nhiều người lầm tưởng đó là một ngôi đình hoặc ngôi miếu gì đó vì
cổng được kiến trúc theo kiểu tam quan (một cửa chính, hai cửa phụ).
Cổng có ba tầng mái lợp ngói ống, những mái đao cong lên trông cổ kính
và rất Á Đông nhưng nhìn kỹ sẽ thấy một cây thánh giá trên nóc cổng.
Bước vào trong sẽ thấy một khuôn viên khá rộng (khoảng 2.000 m2)
mà trung tâm là nhà mồ, nơi an nghỉ của danh nhân Trương Vĩnh Ký -
một trong 18 nhà bác học trên thế giới ở thế kỷ 19, bởi ông là người
VN duy nhất và cũng là người hiếm hoi trên thế giới thông thạo đến 26
thứ tiếng.
Xin hãy thương tôi...
Nhà mồ hình bát giác (rộng khoảng 50 m2),
có kiến trúc kết hợp đông tây rất hài hòa và mỹ thuật (nhà xây kiểu
Pháp kết hợp các họa tiết Đông phương) trông thật trang nhã, nhẹ nhàng…
Trong tám cạnh, ngoài ba cạnh là cửa vào nhà mồ còn lại là những bức
tường có trổ ô thông gió. Mái lợp ngói theo hình nan hoa rẻ quạt (8
cánh) mà chóp mái (tâm điểm) là cây thánh giá. Trên những đường riềm nối
mái đều đắp nổi những con rồng, đuôi rồng phía nóc mái uốn lượn xuống
đầu rồng ngước lên ở phần mái đao cũng có cây thánh giá… Phần “đông
tây - kim cổ” hòa điệu không chỉ ở nghệ thuật kiến trúc mà còn ở “văn
chương, chữ nghĩa”, ở hai bên cửa nhà mồ phía chính diện (nhìn ra
đường Trần Bình Trọng có khắc câu đối bằng chữ Hán: “Văn chương hồi
địa trục/Khí hồn quán thiên đường”, nhưng trên nóc cửa lại ghi dòng
chữ Latin: “Fons Vitae Eruditio Possidentis” (Tri thức là nguồn sống
cho ai sở hữu nó). Tương tự ở cửa phụ nhà mồ (hướng đường Trần Hưng
Đạo) hai bên cửa cũng có khắc đôi câu đối bằng chữ Hán và trên cửa có
dòng chữ La tinh: “Miseremini Mei Saltem vos Amici Mei” (Xin hãy
thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi). Cả hai câu La tinh, câu
đầu là để khẳng định tư duy của một nhà trí thức, câu sau lại cám cảnh
về một phận người rơi vào hoàn cảnh, thời điểm quá éo le và cảm thấy
rất cô độc.
Chính Trương Vĩnh Ký đích thân thiết
kế và coi sóc việc xây dựng nhà mồ cho mình (dòng chữ lưu dấu tháng,
năm hoàn thành công trình còn được chạm nổi trên nóc nhà mồ “Decembre
1898” - cũng là năm ông mất). Ngay chính giữa nhà mồ là 3 phần mộ được
lát bằng phẳng với nền nhà (nếu không tinh ý rất dễ nhầm lẫn là nền
nhà). Phải nhìn kỹ mới thấy 3 tấm đá khác màu có chiều rộng khoảng 1
m, dài khoảng 2 m, nằm ngang đối diện với đài thờ sát tường trong
cùng. Mộ cụ Trương Vĩnh Ký ở chính giữa, là tấm đá trắng đã ngả sang
màu vàng nhạt, được trang trí quanh viền bằng một dây lá (không có
hoa) đơn giản, trong vòng dây lá đó được khắc vài dòng chữ cực kỳ đơn
giản: “J.B Petrus Trương Vĩnh Ký” (2 chữ viết tắt là tên thánh Jean
Baptiste). Tấm “bia” nằm này không ghi ngày tháng năm sinh của ông
(6.12.1837) nhưng lại ghi rõ ngày ông mất 1.9.1898. Nằm bên phải là mộ
phần của vợ ông (bà Vương Thị Thọ), bên trái là con trai trưởng
(Trương Vĩnh Thế), 2 phần mộ này có màu đá sậm hơn (bà Vương Thị Thọ
mất sau chồng 7 năm) nhưng mộ của bà và con trai đã có nhiều chỗ bị
tróc hỏng. Trần nhà mồ được vẽ lân mã đang vờn nhau trong vòng tròn
mây gió.
Những bài thơ trên mộ chí
Bên ngoài nhà mồ, trong khuôn viên khu đất 2.000 m2,
phía bên phải có một ngôi nhà gỗ lợp fibro xi măng giả ngói. Trên nóc
không có hình tượng cây thánh giá mà là… trái bầu hồ lô với dòng chữ
“6 Decembre 1937”. Ngôi nhà gỗ nay cùng vài căn nhà khác xây liền vách
là nơi cư ngụ của con cháu, hậu duệ cụ Trương (họ tận dụng những
khoảng trống còn lại trong khuôn viên để bán nước giải khát ban ngày,
quán ốc ban đêm và cả làm bãi giữ xe... để mưu sinh).
Phía bên trái và phía sau nhà mồ còn
có khoảng 60 ngôi mộ lộ thiên (không có nhà mồ) của dòng họ Trương
Vĩnh. Đặc biệt trên bia của 2 ngôi mộ có khắc những bài thơ. Mộ của
ông Paul Trương Vĩnh Trường (1888 - 1952) khắc “Marie khóc bạn”: Lòng
tôi đau đớn quá mình ôi/Những lúc vui xưa đã mất rồi/Ôi trái tim tôi
ròng máu chảy/Thương lòng in mãi hỡi mình ơi!”. Lời thơ mộc mạc đầy
chất Nam bộ, là nỗi đau sâu kín của người vợ khóc chồng. Dù chỉ ghi là
“Marie khóc bạn” nhưng chúng tôi cũng biết được danh tính đầy đủ của
người phụ nữ này vì ngay bên cạnh là mộ của bà. Trên bia ghi: Bà
Trương Vĩnh Trường, nhũ danh Maria Nguyễn Thị Long (1892 - 1958), bên
dưới có bài thơ Cháu khóc Bà: Ngoại có nhớ những giờ phút cay
nghiệt/Bà với con cùng giọt lệ chan hòa/Trong ngực bà, con thổn thức
thiết tha/Con mất Ngoại, mất bao tình che chở (Monique Kim Hoa).
Hà Đình Nguyên

0 comments:
Post a Comment