Sự
nghiệp để lại cho đời sau của Trương Văn Bền chỉ vỏn vẹn bốn chữ Xà
bông Việt Nam bởi sản phẩm này ra đời và tồn tại như một trong những
biểu tượng tinh thần dám cạnh tranh của người Việt, như cuộc xiển dương
“người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” khi mà nền kinh tế nước nhà đang
nằm trong tay ngoại bang.
| Ông Trương Văn Bền |
Phục vụ đại chúng
Tại
sao lại là xà bông, chứ không là một sản phẩm nào khác? Hãy nghe ông
Trương Khắc Cẩn - Tổng giám đốc Công ty Trương Văn Bền và các con trong
thập niên 1970, con trai ông Bền, cho biết: “Vào năm 1930, sau khi lăn
lộn trong các hoạt động kinh doanh khác, lúc bấy giờ chừng 50 tuổi ba
tôi bảo muốn hoạt động trong một ngành có tính cách phục vụ đại chúng.
Có hai loại sản phẩm mà hầu như mọi người phải dùng: giấy và xà bông, và
ba tôi chọn xà bông”.
|
|||||||
Ông
Trương Văn Bền (1883 - 1956) sinh tại Chợ Lớn (Sài Gòn) trong một gia
đình có truyền thống làm nghề thủ công. Năm 25 tuổi, ông lập nhà máy ép
dầu dừa, công việc làm ăn phát đạt. Về sau, ông còn lập nhà máy xay lúa;
cộng tác với Viện Nghiên cứu nông nghiệp Đông Dương khai thác và tái
tạo rừng thông ở Đồng Nai Thượng. Năm 31 tuổi, ông lập một đồn điền cao
su cỡ nhỏ ở Thủ Đức, sau đó mấy năm, ông mở rộng kinh doanh bằng cách
lập công ty khai khẩn ruộng ở Đồng Tháp Mười; lại có sở đồn điền trên
10.000 ha ở ĐBSCL ...
Trong
tập Pháp du hành trình nhật ký của nhà văn hóa Phạm Quỳnh - ông chủ bút
Nam phong tạp chí lừng lẫy một thời cho biết vào ngày 14.3.1922: “3 giờ
chiều, ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm
trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên
Bắc kỳ về xem nhà máy dầu và máy gạo của ông ở Chợ Lớn. Xem qua cái công
cuộc ông gây dựng lên đã to tát như thế, mà chúng tôi thấy hứng khởi
trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông ngõ
hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được
cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp”.
Thành
công được nhiều việc là do ông không ngừng học hỏi, không bằng lòng với
những gì đang có. Ông từng phát biểu rằng: “Trước khi bắt tay vào kinh
doanh bất cứ việc gì, mình phải biết rõ việc ấy. Người Tây trước khi làm
việc gì họ cũng học trước cả. Cho đến một việc đứng bán hàng, ta cho là
tầm thường và tưởng ai ai cũng có thể làm được, nhưng đối với họ đó là
việc quan trọng, cũng có sách có trường dạy hẳn hoi, dạy từ cách tiếp
khách, khoe hàng làm sao cho người khách mua rồi còn trở lại. Như tôi
đây cơ sở vững vàng rồi mà ngày nào cũng tìm sách, tìm báo đọc thêm. Sức
khỏe, sự học hỏi, sự bền chí là những điều kiện của sự thành công”.
Cạnh tranh với người Pháp, người Hoa
Ông
Trương Khắc Cẩn kể: “Ngay từ buổi đầu công ty đã tọa lạc tại đường Kim
Biên (Chợ Lớn). Ba tôi nấu xà bông trong một căn phố nhỏ theo lối tiểu
công nghệ. Hồi đó việc kinh doanh sản xuất rất khó khăn và kỹ nghệ thì
do người Pháp khai thác và việc phân phối do Hoa kiều làm chủ. Để đoan
chắc có đủ nguyên liệu cho việc sản xuất, ba tôi đã tổ chức những hợp
tác xã những chủ vườn dừa ở Bến Tre và Mỹ Tho”. Bấy giờ, xà bông nhãn
hiệu Xà bông Việt Nam (có hình biểu tượng là Cô Ba nên sau này người
tiêu dùng quen gọi là Xà bông Cô Ba) được sản xuất hình vuông, nhiều cỡ
125 gr, 250 gr, 500 gr, mỗi cục xà bông đều có in nổi hình đầu người phụ
nữ. Về sau để hạ giá thành, ông Bền cho đổ thành cây 0,8 kg, 1 kg người
mua đem về tự cắt thành bánh lớn nhỏ tùy thích. Xà bông Cô Ba bán khắp 3
nước Đông Dương, đủ sức cạnh tranh với xà bông Merseille của người Pháp
đang thống lĩnh thị trường.
Trong
thập niên 1930, việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, công ty của
ông Bền chỉ mới phân phối ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa; còn
lại phải nhờ đến hệ thống của người Hoa. Về sau, việc phân phối này cũng
đã được cải tiến. Ông Tăng Long, người làm việc cho hãng từ năm 1945,
đến thập niên 1970 trên cương vị là giám đốc thương mại cho biết: “Trước
năm 1959, hãng dùng các đại lý để phân phối sản phẩm đến các tỉnh. Tuy
nhiên, nếu ta dùng đại lý thì người mua bị thiệt thòi, hãng không thể
nào thực hiện được mong muốn bán giá rẻ phẩm chất tốt. Một điều bất lợi
nữa là khách hàng không biết về hãng và hãng không nắm được nhu cầu của
khách hàng”. Vì vậy, trong thời điểm của những năm 1959, ông Tăng Long
xin phép sử dụng ngân sách của công ty gần nửa triệu đồng. Với số tiền
không nhỏ này, ông Long thuê một đoàn... võ thuật đi cổ động cho sản
phẩm Cô Ba từ Sài Gòn ra đến sông Bến Hải. Không chỉ đến chợ búa mà họ
còn đi vào tận các làng, xã, đến đâu là họ biểu diễn võ thuật, văn nghệ
để lôi cuốn đám đông và trực tiếp bán hàng cho dân chúng. Ai mua bao
nhiêu cũng bán, cốt là để người tiêu dùng quen với mặt hàng của mình...
Nhờ thế, tiếng tăm và xà bông Cô Ba ngày càng nhiều người biết đến.
Khơi dậy lòng tự hào dân tộc
Tại
sao khi bắt tay vào việc lập hãng xà bông Việt Nam với mục tiêu phục vụ
đại chúng, ông Trương Văn Bền lại đưa ra sản phẩm được gọi tên “Cô Ba”?
Có hai lý do, thứ nhất là do vợ của ông được mọi người quen gọi cô Ba.
Lý do thứ hai mới quan trọng hơn, mới là ý nguyện mà ông Bền bày tỏ một
cách kín đáo về lòng tự hào dân tộc: nhãn hiệu xà bông của ông có in
hình phụ nữ búi tóc, tiêu biểu cho người con gái Nam bộ, người tiêu dùng
quen gọi là cô Ba. Theo cụ Vương Hồng Sển: “Trong giới huê khôi, nghe
nhắc lại, trước kia hồi Tây mới đến, có cô Ba con thầy Thông Chánh là
đẹp không ai bì, không răng giả, không ngực keo cao su nhân tạo, tóc dài
chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt ướt và thơm phức dầu dừa mới
thắng, đẹp vì không son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi nhà nước in hình vào
con tem Nhà Dây thép và một hiệu xà bông xin phép làm mẫu rao hàng xà
bông Cô Ba”.
Cô
Ba con gái thầy Thông Chánh - tên thật Nguyễn Văn Chánh, còn gọi Nguyễn
Trung Chánh - là người dám cầm súng bắn chết tên biện lý Joboin, bị tòa
đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19.6.1893 và bị tử hình tại Trà Vinh. Theo
bài vè Thầy Thông Chánh lưu hành tại Nam kỳ đầu thế kỷ 20, thầy hành
động như thế vì tay biện lý Joboin đã ve vãn vợ con mình.
Nhưng
chuyện thầy Thông Chánh đâu “ăn nhập” gì với cô Ba, để đến nỗi ông
Trương Văn Bền in hình lên sản phẩm của mình? Yếu tố để ông Bền mạnh dạn
làm điều đó vì khi thực dân đưa thầy Thông Chánh ra tòa kết án, cô đã
mắng nhiếc chúng không tiếc lời, vì thương cha.
Hành
động “nữ nhi anh hùng” của cô Ba ít nhiều có ý nghĩa tích cực khơi dậy
trong quần chúng tinh thần bất khuất của dân tộc, đánh trúng vào tâm lý
của những người thấp cổ bé miệng. Nếu ông Bạch Thái Bưởi lấy tên các anh
hùng dân tộc đặt cho thuyền bè của mình thì việc ông Trương Văn Bền
dùng tên Cô Ba quảng bá cho sản phẩm cũng có chung một ý nghĩa. Đó là ý
nghĩa vận dụng tinh thần và hành động phản kháng nhằm khai thác tinh
thần tự tôn dân tộc. Trên thương trường những năm đầu giữa thế kỷ 20 thì
nó cũng như một vũ khí sắc bén để chiến thắng đối thủ cạnh tranh.
|
Sinh
thời, ông Bền đặt tên Công ty Trương Văn Bền và các con cũng không
ngoài mục đích mong muốn các con tiếp nối sự nghiệp, con đường mà mình
đã vạch ra. Và ông toại nguyện với mong ước đó, bởi xà bông Cô Ba trải
qua năm tháng đã có những tiến bộ, phát triển không ngừng. Thử đưa ra
vài con số: năm 1966 với 400 công nhân sản xuất 200 tấn/ tháng; năm 1971
nhờ cải tiến kỹ thuật nên chỉ với 160 công nhân đã sản xuất 400 tấn/
tháng. Theo số liệu công bố trên Nguyệt san Quản trị xí nghiệp số 2
(tháng 8.1971) ở thời điểm này vốn đầu tư lên đến 90 triệu đồng; sản
xuất hằng năm 4.000 tấn xà bông giặt, 1.800 tấn xà bông thơm...
|
Lê Minh Quốc - thanhnien

0 comments:
Post a Comment