NGUYỄN
THANH TUẤN - ÁNH HUYỀN
Biết phải
nói làm sao về công ơn những người thầy trong quá trình tích lũy học vấn đối
với mỗi học viên, nhất là những người thầy có tâm huyết nghề nghiệp siêu việt
và trình độ học vấn uyên thâm. Có khi tự học tập, tự nghiên cứu cả mấy chục năm
lại không bằng chỉ được nghe một bài giảng, một buổi nói chuyện của thầy… Vì
thế mà ông cha ta đã đúc kết thành một chân lý: “Không thầy đố mày làm nên”.
Tuy biết vậy nhưng cuộc sống với biết bao bộn bề, mỗi người đều có một gánh
nặng phải mang theo… Mặc dầu luôn luôn kính trọng và nhớ về công ơn thầy nhưng
tất cả đành để trong lòng. GS. TS. Trương Đăng Dung là tấm gương một người thầy
đáng kính như thế luôn ở trong tim mỗi học viên đã từng được thầy dạy hoặc nghe
thầy nói chuyện.
1. Một
tấm gương khả kính từ đời thường
Nhận Huân chương Chữ thập vàng của Nhà nước Hung ga ri
Sinh ngày 08 tháng 05 năm 1955 tại một làng
quê nghèo thuộc xã Diễn Trường, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Mảnh đất giàu truyền thống yêu
nước, hiếu học và nghị lực vượt khó này đã nuôi dưỡng người thành một Trương
Đăng Dung luôn cố gắng vượt qua mọi khó khăn thiếu thốn để học giỏi và chứng tỏ
bản lĩnh của người thanh niên Hồ Chí Minh. Sau khi hoàn thành chương trình
PTTH, người sang học tập và tốt nghiệp khoa Ngữ văn thuộc Trường đại học Tổng
hợp Budapest – Cộng hòa Hungari (Tốt nghiệp năm
1978). Ngay sau khi tốt nghiệp đại học, Trương Đăng Dung trở về đất nước và làm
việc tại Viện Văn học rồi trở thành Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Trong quá trình làm việc và
nghiên cứu, người tự nhận thấy phải tiếp tục nâng cao trình độ hơn nữa mới có
thể phục vụ tốt nhất những yêu cầu cấp thiết trong việc đổi mới và sáng tạo
trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu văn học, Phải tích cực góp phần đưa khoa học
dần tiến kịp với thế giới… Trương Đăng Dung trở lại Hungari nghiên cứu sinh rồi
bảo vệ luận án Tiến sĩ tại đây (Năm 1984). Sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ,
người có đủ cơ hội và khả năng để cống hiến nhiều hơn, năm 1996 được phong tặng
học vị phó Giáo sư văn học. Những nỗ lực của người được thể hiện bằng các trọng
trách quan trọng mà người được giao tại Viện Văn Học.
Những học
viên như chúng tôi học được từ thầy nhiều bài học bổ ích ngay trong đời sống
hằng ngày. Thầy nói: “Trong cuộc sống phải rất nghiêm túc, nghiêm túc với chính
bản thân mình: lao động nghiêm túc, học tập nghiêm túc, sinh hoạt nghiêm túc… nhất
là trong nghiên cứu khoa học lại càng phải nghiêm túc gấp trăm lần”. Quả đúng
như thế, ở con người ấy toát lên phong thái của một nhà khoa học từ cách ăn ở
sạch sẽ ngăn nắp trong sinh hoạt và có kế hoạch trong làm việc, nghiên cứu,
ngay trong những ngày ở khách sạn, hoặc ở nhà nghỉ của các trường đại học mà
thầy đến giảng bài cho đến giờ giấc và nhiệt huyết đối với công việc và học
viên.
Phó giáo
sư Lê Huy Bắc đã từng nói với học viên: “Tôi không tự kiêu nhưng tôi cũng chẳng
việc gì phải quá khiêm tốn, tôi cứ sống đúng với chính những khả năng của tôi
và chính bản thân tôi”. Đối với Trương Đăng Dung, có lẽ cũng vậy người
chưa bao giờ tự kiêu nhưng người có quyền hãnh diện lắm chứ... Riêng với chúng
tôi, người là một tấm gương đáng để học tập cả về phong cách sống cũng như cách
làm việc.
2. Đến
nghiên cứu khoa học
Tại phòng làm việc
Sự mẫu mực trong đạo đức và lối sống
có nguyên tắc là nền tảng cho những thành công trên con đường nghiên cứu khoa
học của người. Sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ, các công trình khoa học của
người lần lượt được công bố: “Các vấn đề của khoa học văn học” (chủ biên, 1990), “Văn
học và hiện thực” (viết chung, 1990), “Từ
văn bản đến tác phẩm văn học” (1998),
“Tác phẩm văn học như là quá
trình” (2004). Với mong muốn nền văn học Việt Nam
được phổ biến đến bạn đọc trên toàn thế giới, người đã nỗ lực dịch “Truyện Kiều” sang tiếng Hungari (1984) và ngược lại
dịch các tác phẩm: tiểu thuyết “Đứa trẻ mồ côi” của Moricz Zigmond (1987), “Lâu
đài” của F.Kafka
(1998), “Thằng điên và quỷ sứ” của Sarkadi Imre (2000). Ngoài ra còn
dịch một số tác phẩm nghiên cứu và lý luận văn học khác sang tiếng Việt.
Các công trình khoa học của người được
các nhà nghiên cứu, phê bình văn học có uy tín đánh giá cao về mọi mặt. “Là
người được đào tạo một cách chính quy và bài bản nên cách làm khoa học của
Trương Đăng Dung có bài bản cũng là điều dễ hiểu. Những ai không tường tận cách
làm này sẽ thấy sốt ruột, còn Trương Đăng Dung thì không. Anh cứ lẳng lặng một
mình một ngựa “Thét roi cầu
Vị ào ào gió thu”. Trương Đăng Dung là người có ý thức về công việc
của mình và thực trạng nghiên cứu lý luận ở Việt” (GS. TS. Nguễn Đăng Điệp). Với các công trình: “Từ
văn bản đến tác phẩm văn học” (1998),
“Tác phẩm văn học như là quá
trình” (2004)… Trương
Đăng Dung đã thực sự khai mở cho khoa học văn học Việt Nam nguồn
ánh sáng lý luận mới về văn bản và tác phẩm văn học.
Bằng công
trình nghiên cứu “Tác phẩm văn học”, những ý tưởng học thuật về phương thức tồn
tại của tác phẩm văn học đã được khai triển, đào sâu và làm phong phú thêm.
“Trên cơ sở những phát hiện mang tính bản lề trong khoa học nghiên cứu văn học
thì những gì nhà văn viết ra chưa thể gọi là tác phẩm văn học. Có chăng đó chỉ
đơn giản là văn bản văn học mà thôi! Nếu xem những gì mà nhà văn viết ra bằng
sự kết hợp giữa hai yếu tố thực tại tự nhiên, xã hội và tâm hồn, trí tuệ, sự
rung cảm của nhà văn là văn bản văn học thì cái văn bản văn học ấy chỉ trở
thành tác phẩm văn học khi và chỉ khi có hoạt động cụ thể hoá của người đọc.
Văn bản văn học muốn trở thành tác phẩm văn học trước hết nó phải có một đời
sống riêng, đời sống ấy chỉ thực sự bắt đầu khi có sự cụ thể hoá của người đọc”
(Nguyễn Thanh Tuấn). Khi nghiên cứu về văn bản văn học và tác phẩm văn học,
Umberto Eco cho rằng: “Văn bản văn học như là lá thư bỏ vào cái chai nút kín,
sau khi tác giả thả cái chai xuống nước thì anh ta hiểu rằng từ phút đó sự cắt
nghĩa thông điệp của anh ta không còn tuỳ thuộc vào ý đồ của anh ta nữa, cũng
như không phụ thuộc vào ý đồ của cá nhân người nhận nào đó. Văn bản từ đây như
là khả năng mời gọi đối với một công đồng người đọc”. như vậy tác phẩm văn học
phải là sự quện se vi diệu giữa ba yếu tố: một là thực tại tự nhiên, xã hội,
hai là tâm hồn - trí tuệ - sự rung cảm của nhà văn, ba là là sự cụ thể hoá của
người đọc.
Giáo sư
Trần Đình Sử nhận xét về công trình “Tác
phẩm văn học như là quá trình” như
sau: “Đây là một tiểu luận xuất sắc của Trương Đăng Dung”. Người đã xác lập được hệ thống của
riêng mình. Không ít những luận điểm khoa học của Trương Đăng Dung đã đi vào
đời sống và được nhiều người vận dụng. Nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước
đánh giá cao hướng tìm tòi mới mẻ và hiện đại của người. “Bản thân Trương Đăng
Dung cũng luôn muốn được chia sẻ những nghiền ngẫm của mình với đồng nghiệp,
với các lớp nghiên cứu sinh mà anh từng giảng dạy ở các Trường đại học và các
Viện nghiên cứu trong cả nước. Trong các công trình khoa học, Trương Đăng Dung
là người hay nói đến sự vận động, và bất cứ sự vận động nào cũng là một quá
trình. Nếu hiểu như thế thì các ý tưởng khoa học của Trương Đăng Dung cũng
chính là quá trình khiêu khích các giới hạn để vươn đến những giới hạn khác. Mà
ý thức vượt lên các giới hạn thì vẫn còn nguyên vẹn trong nhiệt huyết khoa học
của Trương Đăng Dung” (GS. TS. Nguễn
Đăng Điệp).
3. Và
nghệ thuật
Bạn đọc
không chỉ biết đến Trương Đăng Dung, “một trong những nhà khoa học uy tín nhất
Việt Nam” (TS. Mai Bá Ấn) mà còn
biết đến một Trương Đăng Dung, tác giả của những vần thơ với những cách tân,
hiện đại và đặc biệt ấn tượng cả về nội dung lẫn hình thức. Các bài thơ của
người xuất hiện và liên tục gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc. Nghiên cứu
về thơ Trương Đăng Dung, Hoàng Thụy Anh viết “Tiếp cận một bài thơ, người đọc
cần nhận diện các lớp sóng khuất lấp. Rồi thâm nhập, bóc tách, giải mã chúng để
dần chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật. Đến với thơ Trương Đăng Dung, người đọc
phải tuân theo quy trình đó. Thơ ông chứa một thế giới phi lý, nghiệt ngã, bất
an. Một thế giới ngổn ngang, đầy những giới hạn. Một thế giới trống rỗng, xác
xơ… Thế giới ấy được giải phẫu bằng tư duy của một nhà thơ mang tâm thức hậu
hiện đại. Kiến tạo hình ảnh lạ, ít có sự tương đồng là đặc điểm chung của các
nhà thơ theo tinh thần hậu hiện đại. Trương Đăng Dung cũng dấn thân vào con
đường thơ hậu hiện đại bằng những chuỗi hình ảnh lạ: “Sông
thanh thản kéo trời/ Chiếc ghế bỏ quên cơn mưa mùa hạ/ Dang tay đòi hái mặt
trời/ Những chú chuột ăn cắp tã vá/ Mười ngón tay thức dậy trước bình minh/
Từng giọt trăng đỏ ối” Không
đánh đố, “ma trận” với ngôn từ, hình ảnh trong thơ Trương Đăng
Dung phần nhiều hướng đến cái phi lý, cái ngược đời được pha dung dịch humour. Chúng kết thành một trường phi lý,
bung mở những cánh cửa vô hình trong thơ Trương Đăng Dung, thẩm thấu kiệt cùng
của sự trống rỗng”.
Cái ám
ảnh lớn nhất trong thơ người là hành trình tìm kiếm của con người trong kiếp nhân sinh. Trên hành
trình ấy con người trở nên bơ vơ, lạc loài, chới với chơi vơi trong sự bấn loạn
cực độ của nội tâm:
“Bao năm
rồi anh tìm em
trong
những bình minh không có mặt trời
trong
những lâu đài chỉ có cánh dơi
trong
những giấc mơ không đầu không cuối
Anh hỏi
dòng sông về hạnh phúc trên đời
sông trả
lời anh sông chỉ biết trôi,
anh hỏi
ngọn núi
núi trả
lời anh núi chỉ biết ngồi
anh hỏi
con người
người trả
lời anh bằng nước mắt rơi”
(Ảo ảnh)
Kiếm tìm “em” trong môi trường
siêu thực với sự hư ảo, hoang tàn, rệu rã và kỳ quái. “Em” vốn là một thực thể
cụ thể nhưng trên hành trình kiếm tìm ấy “anh” tự nhận thức được rằng biết bao
giờ mới tìm thấy em. Chính điều này làm cho không gian thơ càng trở nên hư ảo,
vô lý, bất an và ma quái. Thế giới người không phải là một thiên đường trên mặt
đất với: “Này đây hoa của đồng nội xanh rì/ Này đây lá của cành tơ phơ phất/
Của yến anh này đây khúc tình si/ Và này đây ánh sáng chớp hàng mi/ Mỗi sáng
sớm, thần vui hằng gõ cửa”
(Vội vàng – Xuân Diệu) mà là một cõi người với đầy rẫy những ma quái, kinh
hoàng, tởm lợm, đen tối, vô vọng và cô đơn. Điều này thể hiện dấu ấn rõ rệt của
tư tưởng hậu hiện đại, nhất là chủ nghĩa hiện sinh. Cuộc đời là những câu hỏi
vô lời đáp: Em ở đâu? Hạnh phúc là gì? Anh tìm kiếm đến bao giờ… Con người chìm
trong bi kịch của sự cô đơn, băn khoăn, lo lắng rồi chợt nhận ra cuộc đời là vô nghĩa, sự tồn tại
của con người chỉ là hư vô, ngắn ngủi và đồng hành với phi lý, rùng rợn.
“ngày ta
sinh là ngày đầu tiên ta nằm bệnh viện
các bác
sĩ hân hoan khi có trẻ ra đời
họ lấy
nhau của mẹ ta làm đồ nhắm rượu”
(Những
kỉ niệm tưởng tượng)
Những câu thơ có sức ám ảnh lạ thường,
tác giả phơi bày những cái ghê rợn, vô nghĩa, phi lý bằng chính nỗi đau của mình.
Bằng những mảnh vỡ của cuộc sống – những lát cắt siêu thực, Trương Đăng Dung
đưa người đọc chìm sâu vào một thế giới phi lý với nhiều khoái cảm thẩm mỹ mới
lạ. Khi sự sống bắt đầu cũng là khi con người phải đối đầu với những phi lý,
chênh vênh và hư ảo.
“Ngôi nhà
muốn bay
con đường
muốn trôi
dòng sông
muốn dựng ngược
các sự
vật muốn được gọi tên
các sự
việc muốn có đời sống mới”.
(Thỏa thuận)
Tất cả rơi vào trạng thái chênh vênh,
mọi quy luật thông thường của đời sống bị phá vỡ, mọi sự vật trở nên đứt mối
liên hệ trở thành những mảnh vỡ lộn xộn, thao thức đi tìm một trật tự mới trong
thế đối lập một cách vô thường:
Tôi lại
nhìn thấy họ
những xác
người được tìm thấy
trong lớp
đất bom vùi.
Những
người mẹ
chết vẫn
ôm con, những đứa con chết
mặt úp
vào ngực mẹ
(Tôi lại nhìn thấy họ)
Nhìn thấy những hình ảnh tang tóc và
ghê rợn này lòng tác giả quặn đau. Cái quặn thắt không được nói bằng lời, không
được thể hiện bằng những cái nhăn mặt, nhắm mắt… Phía sau giọng thơ khách quan,
lạnh lùng ấy Trương Đăng Dung luôn “mai phục” một trái tim nồng ấm yêu thương
và luôn thầm nguyện cầu cho cuộc sống của con người có những thiên thần đứng
vây quanh, môi hé cười và khe khẽ hát ru vì ngay từ lúc mới sinh ra con người
đã phải sống trong sự phi lý, chênh vênh và muôn vàn đau khổ của cuộc sống.
Bằng những nỗ lực, phong cách sống và
những đóng góp lớn lao trong khoa học, những cống hiến trong nghệ thuật và giáo
dục, Trương Đăng Dung xứng đáng là một tấm gương người thầy khả kính từ đời
thường đến nghiên cứu khoa học và nghệ thuật.



.jpg)
0 comments:
Post a Comment