| Tác giả: Vân Anh ( tổng hợp) | |||||
|---|---|---|---|---|---|
Phả ký
là lịch sử tổng hợp, toàn diện, chi tiết của dòng họ (thực
tế là của một chi họ), viết theo lối viết sử, trong sáng, gãy
gọn, dễ hiểu; cần nắm chắc các thuật ngữ chuyên ngành gia
phả...
|
|||||
PHẦN III
BỐ CỤC HỢP LÝ CỦA BỘ GIA PHẢ
Biên soạn bộ gia phả được chia ra từng bước sau:
● Cách đặt tựa và cách viết lời tựa:
Không nên đặt tựa chữ Hán - Việt, cũng đừng đặt như “Võ tộc
thế phả”. Tựa của quyển gia phả gồm hai phần chính: phần trên
là tên dòng họ ta đang dựng, phần dưới là địa danh hành chánh
đương thời, ghi kỷ từ ấp hoặc thôn, xã, huyện đến tỉnh hoặc
thành phố.
Thí dụ:
GIA PHẢ HỌ TRƯƠNG
Thôn La Cầu, xã Mỹ Thọ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Với
tựa trên, người tìm sẽ dễ dàng, không nhầm lẫn. Những tên xóm
(thôn) trong quá trình lịch sử đã qua thì sẽ đưa vào phần phả
ký.
● Lời nói đầu:
Phần nhiều là do dòng họ viết hoặc ta viết theo sự ủy nhiệm
của dòng họ. Bắt đầu nêu mục đích, nguyên nhân, lý do ta làm
phả; tiếp theo nêu diễn tiến quá trình thực hiện, cùng ai làm,
làm và đạt kết quả các phần theo bố cục ra sao. Nêu ưu
khuyết, kêu gọi lớp hậu duệ bổ cập. Lời cảm ơn, ngày tháng
viết, và tên họ những người chủ trì. Câu văn cần súc tích,
ngắn gọn.
Phần chính phả: Gồm phả ký, phả hệ và phả đồ.
Phả
ký: Phả ký là lịch sử tổng hợp, toàn diện, chi tiết của dòng
họ (thực tế là của một chi họ), viết theo lối viết sử, trong
sáng, gãy gọn, dễ hiểu; cần nắm chắc các thuật ngữ chuyên
ngành gia phả.
Lúc
ghi chép cần tôn trọng hệ thống ký ức và truyền miêng của
người trong họ. Mỗi họ, khi tiếp xúc sâu sẽ phát hiện được một
vài người am hiểu, minh mẫn. Cách hỏi, cách phỏng vấn phải
theo trình tự, hệ thống, từng loại việc, từng người. Phải tới
từng chi, từng hộ để hỏi, quan sát.
Hệ thống mồ mả, bài vị, văn bản tương phân ruộng đất, sổ bộ đời, địa bạ, sách “Đăng Khoa Lục”,
tự điển Nhân vật, các loại bằng khen, giấy khen, giấy chứng
nhận “Mẹ Việt Nam anh hùng”… là nguồn bổ sung quí cho ta.
Phả ký là bài văn khó viết nhất!
Bài phả ký phải đạt mục đích, yêu cầu:
Phải
phản ánh toàn điện lịch sử dòng họ từ khởi thủy đến nay;
xác định rõ tính ưu việt của dòng họ, đây là quan điểm đúng
đắng và chỉ ra phương hướng xây dựng dòng họ văn hóa.
Do
đó, để viết phả ký đầy đủ, cần phải đi thực tế (đi điền dã), trực
tiếp khảo sát, sưu tra đầy đủ; liên hệ thật sâu từng thời kỳ
lịch sử ứng với tùng đời trong họ; phải quán triệt quan điểm
chức năng, nhiệm vụ gia đình xã hội chủ nghĩa, phải vận dụng
kiến thức sẵn có; phải nhẫn nại, kiên trì, nghiêm túc, khi chấp
bút, sau cùng là giọng văn trong sáng, dễ đọc…
Trong
trường hợp dòng họ có gia phả gốc, viết bằng chữ Hán chắng
hạn, ta dịch ra Quốc ngữ và đưa vào thành một phần của phả
ký, sau đó là phần kế tục của các đời tiếp theo..
Nội
dung hợp lý gồm: Phần trên nêu nội dung, ý nghĩa, sự tác động
của gia phả trong đời sống dòng họ; tiếp theo ta nêu sự phát
tích dòng họ; vị tổ đời một, vị tổ khai cơ nêu tiểu sử và
đây chính là người sản sinh ra dòng họ; tiếp theo nêu vị trí
tổ quán với cách thức nêu tuần tự từ địa chí về xóm ấp, địa
lý tự nhiên rồi nêu tiếp về lịch sử xóm ấp, lịch sử các dòng họ
sống chung; rồi viết về đình, miếu…
Đi
sâu hơn ta nêu gia đình – dòng họ là nơi “tái sản xuất ra con
người”, nơi con cháu hậu duệ các đời sinh ra, để duy trì dòng
giống, nâng cao trí lực, thể lực, đảm bảo tái sản xuất cho lao
động xã hội. Ở đây ta có dịp thống kê từng chi đã sanh ra bao
nhiêu nam, nữ; đã tổ chức cưới gả bao nhiêu họ khác với hai qui
luật cơ bản là hôn nhơn và di truyền..
Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống cho từng gia đình trong họ:
Thủơ ban sơ, các vị tiền hiền đến bám đất khai canh, trải qua
các đời đã từng đảm đương kinh doanh các nghề ra sao.
Chúc năng giáo dục:
Giáo dục tri thức, kinh nghiệm, đạo đức và lối sống, giáo
dục nhân cách và thẩm mỹ, ý thức cộng đồng. Phương pháp giáo
dục đa dạng, chủ yếu là nêu gương, thuyết phục, lấy gia phong,
gia đạo để giáo dục, tự giáo dục. Ta chú ý chủ thể là các
bậc ông bà, cha mẹ
Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm – sinh lý, tình cảm:
Ở đây, những vấn đề về giới tính, về giới, về thế hệ, những
sự mệt mõi trong lao động, những căng thẳng trong chiến đấu,
những niềm vui cẩn sẻ chia. Gia đình – dòng họ là nơi có vai
trò giải quyết, bằng vị thế hoặc ông bà, hoặc cha mẹ, hoặc
anh chị, trong đó cần chú ý vai trò những bà mẹ.
Nhìn
qua tổng thể dòng họ, chúng ta phải mô tả cho được vai trò
của dòng họ trong lịch sử ở các khía cạnh: qua hôn nhân và di
truyền đã sản sinh ra đời kế tiếp nối dõi tông đường, là dòng
họ với truyền thống lao động, sản xuất, bám đất giữ làng,
xây dựng sự nghiệp, là dòng họ yêu nước, yêu quê hương, là dòng
họ với truyền thống văn hóa.
Tính
chất, đặc điểm ưu việt của dòng họ: Đây là sự đánh gia khái
quát những tính chất ưu việt các mặt đã nêu. Phải quan sát,
khái quát một cách sắc bén, nêu đúng bản chất dòng họ. Có
thể suy nghĩ và nêu sau cùng sau khi đã chiêm nhiệm dòng họ.
Những nhược đểm, khiếm khuyết ta vẫn có thể nêu để rút kinh
nghiệm trong họ, hoặc là chưa nêu chứ nguyên tắc không được làm
sai lệch lịch sử dòng họ.
Sau
cùng là nêu phương hướng xây dựng dòng họ văn hóa với những
tiêu chí của Đảng và Nhà nước ta đã chỉ ra và truyền thống
dòng họ Việt Nam đã xây dựng. “Dân giàu nước mạnh – Dòng họ
trường tồn – Gia đình phúc đức” là mục tiêu tồn tại của dòng
họ. Gia đình Việt Nam, trên cơ sở “quan hệ bình đẳng – thương yêu –
có trách nhiệm – cùng chia sẻ công việc”:
● Phương pháp viết bài phả ký:
Sưu
tầm tài liệu bắt đầu bằng một chuyến đi điền dã. Đây là công
việc vất vả, phải đi xa và đi nhiều nơi trong dòng họ để hỏi,
phỏng vấn, lấy thông tin trong các bậc lão thành hoặc người am
hiểu trong họ về tiểu sử ông bà tổ, về nhà thờ tổ; khảo sát
mồ mả, tìm hiểu di chúc, giấy tờ đất đai hương hỏa; quan sát
địa lý xóm ấp, đình chùa, miếu mạo…
Phỏng
vấn phải khéo léo, với hình thức linh hoạt vì hỏi không khéo
người ta không nói, hỏi dồn dập người lớn tuổi bối rối quên
mất. Có khi phải đi lại nhiều lần, vì không gặp đối tượng. Nói
chung là phải kiên trì…
Sau
chuyến đi điền dã, ta phải vào kho lưu trữ quốc gia, thư viên hoặc
sở địa chính, tư pháp, công an…để có thêm tư liệu về đất đai,
nhân thân, di chúc, hộ tịch.
● Tổng hợp và xử lý tư liệu, hoàn tất bài phả ký:
Sắp
xếp tư liệu theo thứ tự thời gian và theo từng loại. Dùng
phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh để sử dụng thông tin
chính xác nhất. Cần giải quyết những mâu thuẫn trong lời kể.
Bắt
đầu công việc chấp bút. Trước tiên ta lập đề cương, dàn bài chi
tiết (như trên), rồi dùng thể văn trần thuật, tường thuật, miêu
tả, phân tích và phải cân nhắc xoáy vào trọng tâm, không để lạc
đề, không cường điệu, ca ngợi quá sự thật; tôn trọng tính khoa
học nhưng không đi sâu nghiên cứu làm bài viết khô khan, ngán đọc
Các
mặt tích cực và nhược điểm của gia đình phải được tôn trọng,
chưa nói chứ không được nói khác đi. Với bài phả ký đòi hỏi
trình độ hiểu biết về lịch sử, địa lý, dân tộc học của
người đi dựng phả.
● Cách thực hiện phả hệ và phả đồ:
Phả
hệ là một nội dung chính của bộ gia phả, được sắp xếp sau
phần phả ký, trong đó ghi tất cả bà con dòng họ (nội) của gia
phả tùy theo thực tế tìm hiểu về trực hệ và bàng hệ dòng
họ. Tôn trọng nguyên tắc “đích thứ – trên dưới”. Trình bày theo
chiều ngang, chiều dọc hoặc kết hợp chiều ngang và chiều dọc.
Ở mỗi chiều, chi trưởng, đời thứ nhứt, con cả ghi trước, chi
kế, đời kế, con kế ghi sau cho tới đời hiện nay. Cũng giống như
việc ghi chép lịch sử, phả hệ phải trung thực, khách quan, toàn
diện gồm khung tên họ, kỷ sự (tiểu sử) và các con.
- Phương pháp theo chiều ngang:
Là trình bày cá nhân thành viên dòng họ theo từng đời, hết
đời 1 sang đời 2, đời 3, cho đến đời hiện tại. Ưu điểm của
phương pháp là giúp ta định vị được cá nhân thành viên trong
dòng họ thuộc đời nào một cách dễ dàng để từ đó nhận ra
vai vế của từng người. Tuy nhiên gia phả với qui mô lớn, phương
pháp nầy khó theo dõi để nắm chi tiết từng chi, nhánh, hệ nào
đó của gia phả.. Vì vậy, phương pháp nầy chỉ phù hợp với gia
phả có qui mô nhỏ (ít đời, tổ đời 1 sinh ít con)
- Phương pháp theo chiều dọc:
Là phương pháp trình bày một cá nhân thành viên và tiếp theo đó
là con cái trực hệ của họ. Thí dụ ông A có 3 con là B1, B2và
B3, về B1 ông nầy có có con là C1, C2 và C3, kế tiếp ghi về
ông C1 có các con là D1, D2, D3…cho đến cuối. Phương pháp nầy có
hiệu quả khi cá nhân từng đời ít con cái (cá nhân đông con,
phương pháp nầy sẽ tạo ra manh múng).
- Phương pháp tổng hợp: Kết
hợp cách trình bảy ngang và dọc. Đây là sự cắt dọc phả hệ
ra thành từng phần nhỏ, ở phần nhỏ ta trình bày chúng theo
chiều ngang. Những gia phả qui mô lớn, bố cục nội dung theo từng
cụm, rất dễ theo dõi.
Có
thể đưa ra mẫu cấu trúc cơ bản của phả hệ, mẫu nầy áp dụng
cho cả ba phương pháp (xem mẫu trình bày sau). Cấu trúc mẫu
nầy tuần tự như sau: tiêu đề phụ là dòng chữ ĐỜI I (hoặc II,
III); tiêu đề chính là dòng chữ: CÁC CON ÔNG….VÀ BÀ….
Tiếp
theo là những người con của ông bà như đã nêu ở tiêu đề chính,
mỗi người được đặt trong khung hình chữ nhật (là độc thân),
hoặc trong hình chữ nhật được ngăn làm hai (là người có gia
đình).
Theo
qui định, ở phía tay trái là ô để ghi người con của ông bà đó
(là người của dòng họ và ở phía tay phải để ghi vợ hoặc
chồng của người có tên ở ô tay trái.
Nội
dung trong từng ô nầy với những loại thông tin giống nhau, mỗi
thông tin được ghi một dòng gồm: họ và tên, năm sanh và năm mất
(nếu đã qua đời), ngày giỗ (tất cả lấy ngày âm lịch), mộ
(với người qua đời). Ví dụ:
(Trường hợp có nhiều vợ hoặc chồng thì trình bày tiếp xuống dưới cho cân đối)
Nội
dung tiếp theo sau, bên dưới vuông chữ nhật nêu trên, gọi là kỷ
sự. Đó là những thông tin về các thành viên nói trên và con
cái của họ. Tùy đặc điểm hành trạng cá nhân, có thể chỉ năm
ba dòng. Cũng có thể nhiều hơn, nhưng không nên biến nó thành
một tiểu sử nhân vật, hay một bản lý lịch dài.
Những
thông tin tối thiểu dành cho cá nhân nầy: ngày tháng năm sinh,,
quê quán, tên thường gọi, bí danh, bút danh nếu có. Tóm tắt
lịch sử bản thân. Nếu qua đời, cần nêu lý do qua đời, mộ chôn
ở đâu, ngày giỗ, người lo giỗ và những chi tiết khác như tuổi
ta (âm lịch), sự khác nhau giữa ngày, tháng năm sinh thật so với
giấy tờ hộ tịch, quá trình di dời, chuyển đổi mộ phần.
Cuối
cùng là kể tên những người con, nếu con của những người nầy
có những người con thuộc đời hiện tại (hoặc thuộc đời cháu
ngoại cuối cùng mà gia phả đề cập) thì có thể nói gộp phần
kỷ sự của họ và kể tên những người con của họ trong phần
nầy
● Phương pháp tiến hành: Đi điền dã.
Đặc
điểm là đa số các dòng họ không có gia phả cổ (gia phả gốc),
lần đầu xây dựng bộ gia phả, những thông tin cho nội dung phả
hệ, chủ yếu dựa vào ký ức và thực trạng, người sống và mồ
mả. Vì vậy, công tác điền dã rất quan trọng, gần như là công
việc chủ yếu của người thực hiện gia phả.
Qui
trình rất đa dạng, phong phú với những bài học kinh nghiệm.
Lời khuyên: cố gắng ghi kỷ một lượt để khỏi đi lại rất phiền.
Các
hình thức thu thập thông tin khác: có hai hình thức chủ yếu
là mẫu khảo sát phả hệ và việc tra cứu các thông tin cần
thiết.
● Các loại Phả đồ
Phả
đồ có thể vẽ theo bốn dạng khác nhau: Sơ đồ, Vòng tròn đồng
tâm, Cây phả đồ và dạng các đường kẻ dọc. Phả đồ chỉ ghi tên
những cá nhân là nội tộc, nói cách khác, đó là những người
có thiên chức duy trì nòi giống của dòng họ mình, vì vậy trong
phả đồ không ghi tên những đứa con của các con gái. Đây không
phải quan điểm trọng nam khinh nữ, mà những người con của các
con gái mang họ của chồng đã thuộc dòng họ khác rồi. Như thế,
phả đồ không phải là bảng tóm tắt phả hệ.
Thông
thường, một gia phả chỉ có một phả hệ, trong những trường
hợp đặc biệt, dí dụ gia phả quá nhiều đời, không thể thể
hiện trong một bản vẽ, ngươi ta phải chia ra vẽ từng chi một,
mỗi chi một phả đồ. Cũng có trường hợp gia đình chỉ cần phả
đồ của một vài thế hệ nào đó, ta cũng vẽ được, song đó là
ngoại lệ.
Các
loại phả đồ: Loại sơ đồ đạt chuẩn trình bày bằng máy vi
tính không phải ai cũng thực hiên được. Ở đây chỉ giới thiệu
phương pháp vẽ một sơ đồ đạt yêu cầu nội dung bằng cách vẽ
trên giấy. Sơ đồ cũng tính từ trái sang phải để về thứ, từ
trên xuống dưới chỉ về đời (thế hệ).
Ba loại Phả đồ sau xin xem phần các bài mẫu
● Ngoại phả: Các phần trên đã nêu là chính phả. Phần tiếp sau đây là ngoại phả. Theo Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, ngoại phả là “phần phụ của gia phả, gồm có nhà thờ, kỵ điền v..v.”.
Theo ý của định nghĩa trên, ta có thể thêm vào các phần như
hành trạng của những người nổi bậc, bản đồ khu mộ, danh sách
những người đổ đạt, quan hệ cưới gả với các họ..v.v.
● Phụ khảo:
Việc giỗ chạp là tập tục tốt, kỷ niệm ngày mất của người
thân, có các lễ thức, có văn khấn, có thể làm đơn giản hoặc
bề thế nhân có yêu cầu sum họp, quyết định điều quan trọng. Tất
cả cần sự nghiêm túc, nhắc lai lịch hành trạng người mình
cúng để con cháu nhớ. Nội dung văn khấn do người lớn trong nhà
thực hiện, với nhang đèn đàng hoàng, nội dung chủ yếu là cầu
mong người chết và tổ tiên phù hộ cho con cháu “bình yên vô sự,
tai qua nạn khỏi, làm ăn sung túc…”
Trước
hết khảo về địa chí xóm ấp từ ngày xưa cho đến hiện nay,
khảo về nghề truyền thống, mô tả những công trình kiến trúc
tiêu biểu như đình, miếu, chợ…
LẬP DÀN BÀI CHO MỘT GIA PHẢ:
Trước khi dựng bộ gia phả, ta lập dàn bài chi tiết, cấu trúc hợp lý, phù hợp với qui mô, đặc điểm dòng họ.
Phần trên đoạn: Nói mục đích, yêu cầu, vai trò, vị trí của phả trong dòng họ và trong xã hội:
+
Nuớc có sử nhà có phả, giúp cho con cháu biết rõ lịch sử
dòng họ, tự hào truyền thống cha ông, sống xứng đáng với tổ
tiên. Cụ thể giúp cho việc quan hệ thưa gởi đúng, ghi nhớ ngày
giỗ, cưới hỏi không vi phạm….
Nội dung:
1. Phả ký:
a. Tổ phụ và tổ quán
:+
Vị tổ đầu tiên: tiểu sử vị Tổ, lai lịch, hành trạng (Nếu có
gia phả cổ thì địch ra chữ Quốc ngữ rồi ghi vào) - Bà tổ:
tiểu sử của bà.
+
Tổ quán: Ở đây ta viết về địa lý lịch sử xóm ấp, nơi vị tổ
đầu tiên tới khai cơ lập nghiệp, trước tiên nêu tên gọi các giai
đoạn lịch sử, ranh giới hành chánh, địa lý sông ngòi, đường
sá, chợ, đình chùa. Các dòng họ sống cộng cư. Địa điểm dòng
họ mình đang sống, nhà thờ họ, khu mộ.
+ Vẽ bản đồ xóm ấp (theo http://WIKIMAPIA.ORG)
+
Các thế hệ: Theo qui luật hôn nhân, ông tổ sinh ra các chi, phái,
hệ số lượng là bao nhiêu, đến nay là mấy đời, tổng số con
cháu, hậu duệ, đã cưới, gả với bao nhiêu họ khác.
+
Truyền thống lao động, sản xuất: xác định nghề nghiêp chính
nhự nghề nông chẳng hạn: ai, đời nào có tay nghề truyền thống,
mô tả chúng; ai kinh doanh buôn bán, ai viên chức.
+
Truyền thống văn hóa: Tín ngưỡng tôn giáo, truyền thống thờ
cúng ông bà, chăm lo tạo phúc đức cho con cháu, lo mồ mả, nhà
thờ họ, gia phả
+ Truyền thống yêu nước: bám đất giữ làng, đi bộ đội, hoạt động cách mạng, các cá nhân tiêu biểu
+ Truyền thống xây dựng tổ ấm gia đình
b. Đặc điểm tính chất dòng họ và phương hướng xây dựng dòng họ văn hóa
Nêu khái quát những ưu điểm của dòng họ vê lao động sản xuất,
về văn hóa, về lòng yêu nước va đề ra những điều cơ bản để
xây dựng gia đình văn hóa ngày nay.
2. Phả hệ
+ Đời thứ …..Con của ông…..và bà….
+ Khung
tên họ: Khung gồm tên chồng và vợ 1, vợ 2. Ghi tên họ, dong kế
ghi năm sinh – măm mất theo âm lịch, dòng kế ghi gày giỗ, dòng
cuối ghi mộ chôn.
Ghi tiều sử hai vị.
Ghi các con theo thứ tự con trưởng, thứ hai, ba đến hết.
Chú ý cách ghi ngang hay ghi dọc phải nhất quán từ đầu.
3. Phả đồ:
Phả đồ từng chi và tổng phả đô theo mẫu thường dùng
4. Ngoại phả
+ Mô tả các lễ cúng chính và văn khấn. Mô tả nhà thờ họ và Hội đồng gia tộc, nếu có.
+ Mô tả các khu mộ: ghi vi trí và ten người theo mộ bia.
+ Danh sách người có học vị.
+ Biểu ghi quan hệ cưới gả.
+ Danh sách ngày giỗ
+ Tiểu sử nhân vật tiêu biểu.
5. Phụ khảo:
+ Địa chí xóm ấp
+ Đình làng
+ Ngành nghề truyền thống
(Còn tiếp)
| |||||
- Blogger Comment
- Facebook Comment
- Blogger Comment
Subscribe to:
Post Comments
(
Atom
)


0 comments:
Post a Comment