Trương Phúc
Phấn - vị tướng kiên cường trên chiến lũy Trường Dục
Trương Phúc Phấn tiên tổ người Thanh Hóa vào nhập tịch
ở huyện Khang Lộc, phủ Tân Bình. Vị thủy tổ họ Trương là Trương Quý công cùng
hai vị thủy tổ họ Lê, họ Hoàng là Lê Quý công, Hoàng Quý công cùng nhập tịch và
khai khẩn làng Trường Dục. Đến triều Nguyễn, Khang Lộc chia thành Phong Lộc,
Phong Đăng, Trường Dục thuộc Phong Lộc, phủ Quảng Bình, sau là phủ Quảng Ninh,
tỉnh Quảng Bình.
Ba vị thủy tổ của ba họ Trương, Lê, Hoàng tên là gì?
Do thất lạc gia phả từ lâu đời nên dân làng không ai biết tên. Phần mộ ba vị đều
gọi là mộ Trương Quý công, Lê Quý công, Hoàng Quý công; được các thế hệ dân
làng vun đắp, thờ cúng theo nghi lễ tảo mộ làng cúng tại ba miếu thờ Thành
hoàng làng. Các vị vào từ bao giờ chưa xác định được, nhưng làng Trường Dục năm
1555, sách “Ô châu cận lục” đã ghi tên làng và còn nói rõ: “Gái làng Trường Dục
theo nghề khung cửi”. Trong vùng các họ Trương, Lê, Nguyễn ở Cổ Hiền có căn cứ
xác định vào năm 1470 vì gia phả ghi “tòng Lê nhi lai” (theo vua Lê Thánh Tông
mà vào). Dự đoán ba họ Trương, Lê, Hoàng ở Trường Dục cũng vào thời kỳ đó về
trước.
Vị tướng Trương Phúc Phấn là hậu duệ Trương Quý công
thủy tổ họ Trương làng Trường Dục. Trương Phúc Phấn sinh ra lớn lên ở Trường Dục.
Ông sinh năm nào chưa xác định được, nhưng năm 1640, năm có sự kiện chúa Nguyễn
Phúc Lan theo mưu kế của Nguyễn Hữu Dật đã ly gián làm cho chúa Trịnh giết Hiền
Tuấn công Nguyễn Khắc Loát, người được chúa Trịnh ban họ cải tên là Trịnh Bách
thì Trương Phúc Phấn đã được chúa Nguyễn trước đó phong chức Cai cơ tước Phấn
Vũ hầu, sau thăng Trấn thủ dinh Bố Chính, đã tham gia vào sự kiện ly gián ngoạn
mục trên.
Lũy Trường Dục ở làng quê ông là tuyến phòng thủ thủy
bộ ở ngả ba sông, tả Kiến Giang, hữu Long Đại - Thạch Giang hợp lưu tại ngả ba
Đuồi Diện - Trần Xá xuôi về Nhật Lệ. Là chiến lũy, nơi đây trải 42 năm từ 1630
đến 1672 với 5 trận chiến 1633, 1648, 1660, 1662, 1672; đặc biệt là trận 1648,
nơi đây là lũy “Phấn cố trì” (lũy Trương Phúc Phấn cố giữ), bên kia là địa huyệt
đầm lầy Võ Xá. Ở đầm lầy Võ Xá, trong trận 1648, chúa Nguyễn sai Thuận Nghĩa hầu
Nguyễn Hữu Tiến dùng 100 thớt voi đực phản công quân Trịnh thắng lợi, làm quân
Trịnh từ thế thượng phong liền bị thất bại sau một đêm bị quân Nguyễn dồn vào đầm
lầy Võ Xá. Trận đánh ấy, địa danh ấy trở nên nổi tiếng trong chiến tranh giữa
hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn. Người đời sau có câu: “Nhất sợ ma lũy
Thầy, nhì sợ đầm lầy Võ Xá”.
Nhớ lại trận kịch chiến trên lũy Trường Dục năm
1648, hai vị tướng, hai cha con là Trương Phúc Phấn và Trương Phúc Hùng đã dũng
cảm kiên cường trụ giữ thành lũy không cho quân Trịnh chọc thủng phòng tuyến, bảo
đảm cho thắng lợi của trận chiến. Bởi vậy, dân gian gọi là lũy Phấn cố trì (lũy
Trương Phúc Phấn cố giữ).
“Quảng Bình địa dư ca” của Trần Kinh có câu:
“Phúc Phấn là tướng hùng phi,
Đánh quân Trịnh tặc vậy thì hiển danh”
Sách “Đại Nam nhất thống chí” (Quốc sử quán triều
Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006 ), Tập 2, trang 81 chép: “Trương Phúc Phấn: tiên tổ là người Thanh Hóa sau theo vào Nam, nhập tịch
huyện Phong Lộc. Phấn là người có võ lược, trước làm Cai cơ, sau thăng Trấn thủ
dinh Bố Chính, gặp lúc phản tướng là Nguyễn Khắc Loát quấy rối ở châu Nam Bố
Chính, Phấn cùng Nguyễn Cửu Kiều đánh đuổi chiếm lấy hết đất Bắc Bố Chính, vừa
lúc quân Trịnh xâm lấn, Phấn giữ lũy Trường Dục, quân Trịnh đánh hăng, các quân
sợ hãi bỏ chạy mười phần mất bảy tám phần; Phấn thúc trống phất cờ một mình đem
quân bộ thuộc đánh dữ, giặc phải lui, lũy chỗ nào bị sạt thì Phấn thúc quân bồi
đắp. Giặc ở xa bắn đạn rơi xuống như mưa, Phấn vẫn dương lọng ngồi yên không hề
giao động, bên địch cho là thần, gọi là Phấn cố trì. Con là Hùng, dũng cảm đánh
giỏi, đánh đâu được đấy, người Đàng Ngoài sợ hãi, gọi là Hùng sắt”.
Trương Phúc Phấn qua đời năm nào hiện chưa truy cứu
được. Mộ ông táng ở Thừa Thiên. Ông được truy phong Chưởng cơ Phấn Quận công.
Con trai ông là Hùng Lộc hầu Trương Phúc Hùng, một danh tướng trên chiến lũy
Trường Dục có biệt danh “Hùng sắt”; là vị chỉ huy quân Nguyễn năm 1653 đi đánh
Chiêm Thành, mở rộng bờ cõi, lập hai phủ Thái Khang và Diên Ninh và lập dinh Trấn
Biên. Vùng đất ấy nay là tỉnh Khánh Hòa.
Trương Phúc Hùng
- Vị tướng “dũng cảm đánh giỏi, đánh đâu được đấy”
Trương Phúc Hùng, con trai của tướng quân Phấn Vũ hầu
Trương Phúc Phấn thuộc dòng họ Trương ở Trường Dục. Được cha, một vị võ tướng của
chúa Nguyễn, Cai cơ Phấn Vũ hầu rèn cặp, giáo dục rèn luyện về binh nghiệp. Lớn
lên trong chiến cuộc phân tranh giữa hai thế lực phong kiến Trịnh - Nguyễn mà
quê hương Trường Dục của ông là trung tâm chiến lũy Trường Dục nên ông sớm trở
thành vị tướng trẻ có bản lĩnh cao cường nơi trận mạc.
Tại trận chiến chống quân Trịnh
trên lũy Trường Dục năm Mậu Tý 1648, vị tướng trẻ Trương Phúc Hùng sát cánh
cùng cha, trực tiếp chỉ huy đội quân bộ thuộc cùng cha cố giữ chiến lũy. Trước
bản lĩnh và ý chí quyết tâm của vị lão tướng Trương Phúc Phấn cùng với tinh thần
dũng cảm, tả đột hữu xung của vị tướng trẻ Trương Phúc Hùng đã khích lệ quân sĩ
đồng tâm hiệp lực giành thắng lợi cuối cùng tại cuộc chiến trên lũy Trường Dục.
Dù đứng trên lập trường của vị quan nhà Trịnh, Lê Quý Đôn cũng đã thừa nhận thất
bại ở trận Võ Xá và sự cố thủ vững vàng của cha con Trương Phúc Phấn, Trương
Phúc Hùng ở lũy Trường Dục đã góp phần làm cho quân Trịnh thất bại trong chiến
cuộc 1648. Ở trang 55 sách “Phủ biên tạp lục” có chép:
“Năm thứ 6, Mậu
Tý 1648, tháng giêng chúa sai Trấn thủ Nghệ An là Tiến Quận công Trịnh Đào đem
các quân vào đánh miền Nam; sai Gia Quận công đem thủy quân vượt biển vào cửa
biển Nhật Lệ, đánh phá dinh Quảng Bình, đóng quân ở Võ Xá… Phúc Tần sai Chưởng
cơ Thuận Nghĩa hầu chọn 100 thớt voi đực, nhân đêm chạy đến phá dinh Gia Quận
công, bắt được Quận Gia, Quận Mỹ và nhiều binh lính, Trịnh Đào chạy về”.
Sau trận chiến ấy, Trương Phúc Hùng được chúa Nguyễn
ban tặng tước Hùng Lộc hầu, một phần thưởng to lớn và vinh hạnh. Cũng từ đó, ông
được chúa Nguyễn cất nhắc và bố trí vào những nhiệm vụ quan trọng.
Sách “Phủ biên tạp lục” trang 55
có chép: “Năm Quý Tỵ (1653) vua nước Chiêm Thành là Bà Tầm quấy rối đất
Phú Yên. Sai Cai cơ Hùng Lộc hầu (Trương Phúc Hùng) làm Tổng binh, xá sai Minh
Võ làm tham mưu đem 3.000 quân đi đánh. Đến phủ Phú Yên ngày 3 tháng 4, nhân
đêm qua đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, ruổi thẳng đến trại Bà Tầm, phóng lửa đánh gấp,
phá tan, đuổi dài đến sông Phan Lung. Bà Tầm sai con là Xác Bà Ân nộp lễ xin
hàng. Phúc Tần cho, bắt chia địa giới, lấy đất từ phía đông sông ấy đến Phú Yên
đặt làm hai phủ Thái Khang và Diên Ninh, đặt dinh trấn thủ Thái Khang. Phía tây
sông vẫn là nước Chiêm Thành, khiến giữ bờ cõi và nộp cống”.
Đây là sự kiện lịch sử rất quan
trọng trong sự nghiệp mở cõi bờ phương Nam. Trước đó hai thế kỷ, năm 1470, vua
Lê Thánh Tông dẫn đại binh kinh lý phía Nam và tiến quân đánh đuổi Chiêm Thành
đến đèo Hổ Dương, đưa mốc giới phía Nam Đại Việt đến núi Thạch Bi (núi Đá Bia -
nay là ranh giới Phú Yên và Khánh Hòa). 183 năm sau, người lĩnh sứ mệnh lịch sử
đánh đuổi Chiêm Thành vào đến sông Phan Lung (Phan Rang), lập địa bàn hành
chính mới cho hai phủ cực Nam Đại Việt vào năm 1653, đó là phủ Thái Khang và phủ
Diên Ninh; lập dinh trấn thủ Thái Khang (dinh Trấn Biên).
Vùng đất mới mà vị tướng Hùng Lộc hầu cùng đội quân
của ông giành được và ông là người lập địa bàn hành chính để chính thức hóa đưa
vào lãnh thổ Đại Việt ở phương Nam năm 1653 chính là vùng đất Khánh Hòa ngày
nay. Vì thế, cộng đồng dân cư các dân tộc ở Khánh Hòa luôn ghi nhớ ân đức của
ông, coi ông là vị Thành hoàng bổn xứ.
Năm 2002, chuẩn bị kỷ niệm 350 năm (1653-2003) vùng
đất Khánh Hòa về với Đại Việt, tỉnh Khánh Hòa cử đoàn đại biểu là các nhà
nghiên cứu lịch sử, văn hóa ra gặp lãnh đạo Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng
Bình để về Trường Dục (xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh) tìm hiểu quê hương bản
quán của ngài, đến viếng mộ ngài. Ở Khánh Hòa, có tài liệu chép: Mộ chí tướng
Trương Phúc Hùng an táng tại đồi Cây Kéc, xã Trường Dục, huyện Khang Lộc (nay
là huyện Quảng Ninh).
Ngôi mộ tọa lạc tại Đại Cồn - Lưu Hoang xứ, ở địa thế
cao so với trong vùng, nay cạnh nghĩa trang liệt sĩ Xuân - Hiền. Mộ đắp bằng đất
ba bậc hạ - trung - thượng trên diện tích 300m2. Ba mặt đông - tây -
bắc có cây bảo vệ. Tây bắc mộ trước đây có cây bùi cao to, đường kính thân cây
khoảng 0,6m. Mặt trước hướng nam mộ, làng dành bãi đất 1 sào Bắc Bộ (360m2)
đất công thổ, để hàng năm, ngay dãy mộ lấy đất đắp bồi cho nền nấm mộ. Dân
trong vùng thường gọi tên ngôi mộ là mộ Đại tướng.
Trước khi đoàn nghiên cứu lịch sử, văn hóa Khánh Hòa
đến và cung cấp sử liệu thì dân địa phương chưa hiểu mộ Đại tướng là của ai? Vì
chưa tìm được sách nào ghi cụ thể về tên vị Đại tướng ở ngôi mộ này; các thế hệ
trước trong làng không truyền tên, chỉ gọi là mộ Đại tướng. Gia phả các họ
trong làng bị mất nên từ ba vị tổ của ba họ Trương, Lê, Hoàng, các chi phái lập
thành nhiều họ riêng. Dân làng rước bài vị Đại tướng vào thờ cùng các vị Thành
hoàng làng ở ba miếu với sự tri ân như một vị phúc thần.
Theo những người am tường phong thủy cho biết, địa
huyệt tại mộ Đại tướng là ứng với lời đoán định trong sách phong thủy và sấm
ký:
“Lô đồng nhất
huyệt công khanh
Tại diêm lư hạ,
đời đời bất diệt”
Giờ đây qua thông tin của đoàn
nghiên cứu lịch sử, văn hóa tỉnh Khánh Hòa, dân làng Trường Dục mới biết vị Đại
tướng có mộ táng tại Đại Cồn - Lưu Hoang xứ, thuộc đất làng Trường Dục là Cai
cơ Tổng binh Hùng Lộc hầu Trương Phúc Hùng. Ông là con trai vị tướng lừng danh
trên lũy Trường Dục, Trương Phúc Phấn. Theo các vị nghiên cứu lịch sử, văn hóa
tỉnh Khánh Hòa, mộ ngài Trương Phúc Phấn táng ở Thừa Thiên.
Từ vị thủy
tổ Trương Quý công quê Thanh Hóa vào khai khẩn vùng đất Trường Dục địa linh -
dư khí Thần Đinh - đã sinh ra các thế hệ hậu duệ xứng tầm nhân kiệt. Hai danh
tướng, hai cha con Trương Phúc Phấn, Trương Phúc Hùng đã góp phần làm rạng danh
Trường Dục, một vùng đất địa linh nhân kiệt. Họ được dân làng thờ tại miếu đường
của làng và hàng năm làng tổ chức thờ cúng bày tỏ lòng tri ân người có công với
nước với làng.
NNC. TRẦN VĂN
CHƯỜNG
(Quảng Bình)


0 comments:
Post a Comment