1/Nguồn gốc tộc họ ;
* Dòng họ
Trương Văn làng Yên Ninh (Cương Gián,
Nghi Xuân- Hà Tĩnh);
( Nhà thờ họ Trương làng Yên Vinh- D.Mỹ- DC) Làng Yên
Định (Lộc Hà - Hà Tĩnh) –làng Yên Lương ( Thị xã Cửa Lò) và làng Yên Vinh( Diễn
Mỹ, Diễn Châu) là chung gốc một họ, phát tích từ Quảng Bình ra xã Cương Gián
huyện Nghi Xuân Hà Tĩnh khoảng thế kỷ thứ XIV. Đến khoảng thế kỷ thứ XVII, có
người con thứ đi ra phía bắc cư trú tại Cửa Lò. Ở đó Ngài Đức tổ sinh ra cụ tổ
Trương Văn Thanh. Cụ Thanh có 5 người con trai, 3 người ở Cửa Lò sinh hạ ra con
cháu chi I, chi II, Chi III;
* Người thứ
4 là Trương Văn Kính đi ra làng Yên Vinh tổng Vạn Phần, nay là xã Diễn Mỹ huyện
Diễn Châu tỉnh Nghệ An sinh hạ ra con cháu chi IV tại làng Yên Vinh ( Diễn Mỹ,
Diễn châu).
Cả dòng họ Trương
gốc làng Yên Vinh, Diễn Mỹ có hơn 200 hộ, Khoảng 430 đinh).
Từ xưa , dòng họ
đã có nhà thờ cổ kính, thâm nghiêm, những năm gần đây lại được tu bổ nâng cấp
cho mới mẻ khang trang, không khí sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng của anh em
con cháu vui tươi hòa đồng tin tưởng và trách nhiệm
-Năm 2011
chi 4 Diễn Mỹ tu sửa làm mới hoàn thiện nhà thờ, tổng kinh phí gần 800 Triệu đồng.
- Những ngày lễ, ngày Giỗ Tổ các con cháu đều có mặt thờ
phụng Tổ tiên chu đáo, đầy đủ ( Kể cả vào các Chi anh ở Cửa Lò hay Cương Gián –
Nghi Xuân- HT). Đây là nét đẹp Văn hóa
tâm linh cần phát huy.
- Năm 2010, Dòng họ Trương Văn, làng Yên Vinh, Diễn Mỹ
được công nhận là ‘‘Dòng họ Văn hóa’’.
2/ Các bậc
tiền nhân của dòng họ Trương Văn làng Yên Vinh… xứng bậc anh tài:
-
Ở thế kỷ XVIII,
Thủy tổ là ‘‘Cận Thiết Đôn Hầu’’ Trương Văn Kính đã 2 lần trong đời theo nghiệp
binh đao :
Cụ là hậu duệ của Trương Đình Công ( Th ành hoàng làng Yên Ninh, Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) - một chiến tướng thời Lê sơ tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo ở thế kỷ XV.
Một sự kiện lớn liên quan đến vận mệnh quốc gia xảy ra ở cuối thế kỷ XVIII đã thay đổi cuộc sống cuối đời của cụ Trương Văn Kính. Đó là ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (tức ngày 26 tháng 12 năm 1788), Quang Trung Nguyễn Huệ hành quân ra Bắc có dừng tại Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển thêm tân binh và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân để tiến ra Bắc, tiễu trừ 29 vạn quân Thanh giải phóng Thăng Long.
Vốn là quan binh triều Lê – Trịnh đã nghỉ hưu tại quê nhà (Yên Vinh – Diễn Châu – Nghệ An) nhưng cụ Trương Văn Kính vẫn được mời ra giúp nước vì Cụ có nhiều kinh nghiệm về thủy quân.
Về mặt bố phòng, Quang Trung Nguyễn Huệ đã lấy Biện Sơn (còn gọi là cửa Bạng hay lạch Bạng - nay là khu vực cảng biển nước sâu Nghi Sơn thuộc huyện Tĩnh Gia – Thanh Hóa) làm căn cứ thủy quân. Nơi đây có núi cao bao bọc xung quanh, hàng trăm tàu thuyền có thể neo đậu, không sợ sóng to gió lớn. Trên đảo Biện Sơn các Triều đại đã xây dựng thành lũy cho thủy quân đóng giữ. Phía ngoài Biện Sơn có một số đảo nhỏ sát nhau, thủy quân đóng ở Biện Sơn có thể kiểm soát con đường thủy ven biển từ Bắc vào Nam. Với Quang Trung Nguyễn Huệ thì phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn là một “khu vực phòng thủ” hiểm yếu, kháng địch cực kỳ hữu hiệu.
Từ căn cứ thủy quân ở Biện Sơn, “Cận thiết Đôn Hầu” Trương Văn Kính đã cùng hai đạo quân đi đường thủy do Đại đô đốc Lộc ( Nguyễn Văn Lộc), Đại đô đốc Tuyết (Nguyễn Văn Tuyết) chỉ huy, xuất phát từ Biện Sơn vượt biển vào sông Lục Đầu (địa phận này giáp giới giữa huyện Quế Võ – Bắc Ninh và huyện Chí Linh – Hải Dương ) rồi từ đây chia ra 2 ngả: đạo quân của Đại đô đốc Tuyết vào Hải Dương, đạo quân của Đại đô đốc Lộc trong đó có cụ Trương Văn Kính tiến gấp lên phía Bắc tới các hạt Phượng Nhãn, Lạng Giang, Yên Thế để chặn đường chạy về nước của tướng Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh. Trong trận chiến cuối cùng, cụ đã hy sinh ở cửa khẩu Châu Lạng trên sông Kỳ Cùng vào mồng 7 Tết Kỷ Dậu 1789, thọ 79 tuổi.
Cụ là hậu duệ của Trương Đình Công ( Th ành hoàng làng Yên Ninh, Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) - một chiến tướng thời Lê sơ tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo ở thế kỷ XV.
Một sự kiện lớn liên quan đến vận mệnh quốc gia xảy ra ở cuối thế kỷ XVIII đã thay đổi cuộc sống cuối đời của cụ Trương Văn Kính. Đó là ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (tức ngày 26 tháng 12 năm 1788), Quang Trung Nguyễn Huệ hành quân ra Bắc có dừng tại Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển thêm tân binh và củng cố lực lượng, nâng quân số lên 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân: tiền, hậu, tả, hữu và trung quân để tiến ra Bắc, tiễu trừ 29 vạn quân Thanh giải phóng Thăng Long.
Vốn là quan binh triều Lê – Trịnh đã nghỉ hưu tại quê nhà (Yên Vinh – Diễn Châu – Nghệ An) nhưng cụ Trương Văn Kính vẫn được mời ra giúp nước vì Cụ có nhiều kinh nghiệm về thủy quân.
Về mặt bố phòng, Quang Trung Nguyễn Huệ đã lấy Biện Sơn (còn gọi là cửa Bạng hay lạch Bạng - nay là khu vực cảng biển nước sâu Nghi Sơn thuộc huyện Tĩnh Gia – Thanh Hóa) làm căn cứ thủy quân. Nơi đây có núi cao bao bọc xung quanh, hàng trăm tàu thuyền có thể neo đậu, không sợ sóng to gió lớn. Trên đảo Biện Sơn các Triều đại đã xây dựng thành lũy cho thủy quân đóng giữ. Phía ngoài Biện Sơn có một số đảo nhỏ sát nhau, thủy quân đóng ở Biện Sơn có thể kiểm soát con đường thủy ven biển từ Bắc vào Nam. Với Quang Trung Nguyễn Huệ thì phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn là một “khu vực phòng thủ” hiểm yếu, kháng địch cực kỳ hữu hiệu.
Từ căn cứ thủy quân ở Biện Sơn, “Cận thiết Đôn Hầu” Trương Văn Kính đã cùng hai đạo quân đi đường thủy do Đại đô đốc Lộc ( Nguyễn Văn Lộc), Đại đô đốc Tuyết (Nguyễn Văn Tuyết) chỉ huy, xuất phát từ Biện Sơn vượt biển vào sông Lục Đầu (địa phận này giáp giới giữa huyện Quế Võ – Bắc Ninh và huyện Chí Linh – Hải Dương ) rồi từ đây chia ra 2 ngả: đạo quân của Đại đô đốc Tuyết vào Hải Dương, đạo quân của Đại đô đốc Lộc trong đó có cụ Trương Văn Kính tiến gấp lên phía Bắc tới các hạt Phượng Nhãn, Lạng Giang, Yên Thế để chặn đường chạy về nước của tướng Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh. Trong trận chiến cuối cùng, cụ đã hy sinh ở cửa khẩu Châu Lạng trên sông Kỳ Cùng vào mồng 7 Tết Kỷ Dậu 1789, thọ 79 tuổi.
( Theo bài viết của Trương Thị Kim Dung
(Ban Tư
liệu - văn kiện, Hội đồng Trương tộc Việt Nam)
- Tử tôn cụ Trương
Văn Kính, nhiều người làm đến chức sỹ tướng, như Trương Quang Đạo (Phó sứ đồn điền
Trương Quang Đạo), làm Pháp sư Trương
Pháp Dong ( cố Tồn), đặc biệt các bậc tiền nhân dòng họ từ Cửa Lò đến Yên Vinh,
nhiều người là thầy thuốc giỏi, lấy y đức làm trọng, danh tiếng tận bây giờ; Tại
Yên Vinh xưa có người làm đến chức “đốc” như đốc Năm, nhiều người đã làm “ông
đồ” dạy học nổi tiếng như cố đồ Tân, cố đồ Viên, cố đồ Huấn…
3/ Về kinh tế và học hành:
* Các hộ gia
đình nào
trong dòng họ cũng
có sự đổi
mới nếp nghĩ
nếp làm , nuôi con học hành
tấn tới là suy nghĩ chung của
nhiều gia đình, anh em tự vươn lên làm
giàu chính đáng.
Cả dòng họ
đang còn hộ nghèo( 5%),
nhưng là dòng họ Văn hóa, xóa đói
giảm nghèo nhanh, chú ý nền kinh tế trí thức, phát triển doanh nhân, doanh
nghiệp. Hộ giàu thì chưa nhiều
nhưng có nhiều gương SXKD giỏi, lăn lộn trên thương trường.
Làm Kinh tế giỏi, trở
thành những Doanh nghiệp nhỏ, bước đầu ăn nên làm ra, như
Trương Xuân Lộc, Trương Văn Cầm, Trương Văn Thắng, Trương Văn Toàn, …
* Hiện nay toàn
tộc họ, nhiều con cháu học hành đỗ đạt, thành danh thành tài, nhiều cháu đã và đang học Đại học ( Bình
quân 3 hộ có 1 học vị Đại học). Hiện nay
đã 1 Tiến sĩ Toán học và có 8 cháu là
Thạc sĩ (3 cháu đang học ; 5 cháu
đã bảo vệ thành công luận
án ở nhiều lĩnh vực: Thạc sĩ QLGD như Trương Văn Dũng ; Thạc sĩ
Ngoại ngữ như Trương Lê Thùy linh; Thạc sĩ Biến đổi khí hậu như Nguyễn Thị Phố ;
Thạc sĩ CN-TT như Trương Vĩnh Long ; Thạc sĩ QLVH như Trương văn Linh;
Thạc sĩ Kinh tế trong và ngoài nước, như Trương Văn Hoàng ; Trương Thị Lan
Hương ; Lê Thị Linh ;…
Trương Hồng Minh (Sinh 10/10/1985),
ở nhánh 3 chi 4 (họ
Trương Văn làng Y ên Vinh - Diễn Châu - con anh Trương Văn Xuyến) đã đỗ
Tiến sỹ toán học nước Pháp ở tuổi 28. Từ lúc nhỏ đi học (1991) cho tới 4 năm
Đại học và học Thạc sĩ năm thứ nhất (2008),Trương Hồng Minh luôn luôn được
xếp học lực loại Giỏi. Các năm 2002 đạt
giải 3, năm 2003 đạt giải nhì học sinh giỏi Toán quốc gia. Trong 4 năm học Đại
học Môn Toán- ĐHSP Thành phố HCM thì có 2 năm liền đạt giải nhì môn giải tích
Olympic sinh viên toàn quốc. Năm 2007, đạt giải nhất môn giải tích Olympic sinh
viên toàn quốc Trương Hồng Minh
( Trương
Hồng Minh, 5/2014)
đỗ cử nhân Toán vào loại Giỏi. Năm 2007 anh là
giảng viên trường ĐHSP thành phố Hồ - Chí - Minh và theo học Thạc sĩ cao học
Quốc tế tại ĐHSP Hà Nội đạt loại giỏi, được học bổng Quốc gia để học tiếp Thạc
sĩ 2 năm nữa tại ĐH Paul Sabatier (Cộng hòa Pháp). Xong Thạc sĩ, từ năm 2009
đến 2013, được Nhà nước Pháp cấp học bổng, anh lại tiếp tục “Nghiên cứu sinh”
tại Viện Toán học Pháp. Ngày 04/10/2013 anh đã bảo vệ thành công luận án và
được cấp bằng Tiến sĩ quốc gia môn Toán cơ bản tại Pháp.
Hiện nay
Tiến sĩ Trương Hồng Minh đang vừa công tác vừa nghiên cứu sau Tiến sỹ. Trương
Hồng Minh đến Brazil để làm post-doc,
tức là làm nghiên cứu sau Tiến sỹ. Làm việc là Viện toán thuộc trường đại học
liên bang Alagoas, thành phố Maceio, Brazil. Công việc chính của anh là hợp tác
cùng làm việc và nghiên cứu toán với các giáo sư ở đây. Ngoài ra sau khi học
Tiếng Bồ Đào Nha, anh sẽ giảng dạy một môn trong chương trình thạc sỹ của họ.
Bài và ảnh: Trương Xuân Đào

(ảnh do Trương Hồng
Minh cung cấp : Các Giáo sư Quốc tế - Hội đồng bảo vệ Luận án Tiến sĩ và
Bằng Tiến sĩ Toán học nước Pháp của Trương Hồng Minh, 10/2013)




0 comments:
Post a Comment